Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014

NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SUY THOÁI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG - NHIỆM VỤ CẤP BÁCH TRONG CHỐNG “GIẶC NỘI XÂM” HIỆN NAY



Vin vào cái cớ nghị quyết Trung ương 4, khóa XI của Đảng ta bàn về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng một số người có quan điểm bất đồng, thậm chí đối lập với Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc sự thật, thổi phồng khuyết điểm, khuyếch đại thiếu sót, hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước ta, v.v.. Bản chất của vấn đề là họ muốn phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta; xóa bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; lái nước ta đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa có lợi cho phương Tây. Ý đồ của họ đã lộ diện, âm mưu, thủ đoạn của họ đã được công khai từ nhiều năm nay thông qua thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ. Giờ đây, lợi dụng Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI của Đảng ta về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay, các thế lực thù địch đã và đang rùm beng lên rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã thú nhận sai lầm” để chống Đảng ta. Hãy bình tĩnh nhìn nhận, xem xét mọi vấn đề và xem đây như một loại “giặc nội xâm” để ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới khắc phục suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng ta trong sạch vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ là một vấn đề rất quan trọng và cấp bách trong tình hình hiện nay.
 Suy thoái tư tưởng chính trị, về thực chất, là sự phản ánh sai lệch hiện thực khách quan từ việc phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, do tuyệt đối hóa cái chủ quan, làm cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, những cái tốt, ưu việt của chế độ ta bị xuyên tạc trở thành méo mó, thực hư, thật giả, trắng đen lẫn lộn; bị lợi dụng để thực hiện mục đích cá nhân theo kiểu “đục nước béo cò”; biến cái tốt thành xấu. Vì thế, cái xấu có cơ hội nảy nở, lấn át cái tốt.
Suy thoái tư tưởng chính trị không chỉ phản ánh sai lệch quan điểm, lập trường của người cộng sản mà còn phản ánh sai lệch các chuẩn mực đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; do lương tâm, danh dự của họ đã bị lu mờ, hoen ố; tự thân, không thể nhận thức, phân biệt rõ ràng phải trái, đúng sai; không thể điều chỉnh thái độ, hành vi trong các quan hệ giao tiếp, ứng xử để đạt đến sự chuẩn mực đạo đức vốn có của người cộng sản nên đã rơi vào lối sống buông thả, “quên tình nghĩa, xa rời đạo lý”; đề cao vật chất, sùng bái đồng tiền; nặng về hưởng lạc, ham chức, cậy quyền, đề cao “cái tôi”, coi thường tổ chức, trà đạp lên tập thể...
Hiện tượng này tuy không phải là phổ biến, chỉ rơi vào một số cán bộ, đảng viên nhưng lại gây hại lớn cho xã hội; làm nhiều người tốt lo ngại, băn khoăn; thậm chí khủng hoảng niềm tin vào chân lý; có nơi lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, nhất là đối với tổ chức đảng và chính quyền địa phương bị giảm sút nghiệm trọng.
Vì thế cho nên, tuyển chọn cán bộ, nhất là cán bộ ở vị trí quan trọng phải thật sự chú ý đến bản lĩnh chính trị, lập trường, quan điểm giai cấp, quá trình rèn luyện, phấn đấu và trưởng thành của các nhân sự. Kiên quyết không thể chấp nhận ai đó mà bản lĩnh chính trị non kém; sự tu dưỡng, rèn luyện, ý thức chấp hành kỷ luật không nghiêm vào các vị trí chủ chốt, nhất là ở những nơi mà điều kiện, hoàn cảnh dễ làm họ rơi vào suy thoái hóa tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống do sự lôi cuốn, cám dỗ của vật chất, sự mua chuộc của đồng tiền, sự hấp dẫn của chức quyền, sự đam mê của tửu sắc, sự tung hê, bợ đỡ của xã hội đen, v.v..
Suy thoái tư tưởng chính trị là một loại bệnh “nan y” nhưng không phải là vô phương, hết cách cứu chữa. “Cơ địa” chung của những người mắc bệnh này là ý thức trách nhiệm thấp, bản lĩnh chính trị non kém; tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức nhân cách người cách mạng không vững vàng nên không đủ sức cự tuyệt những cám dỗ vật chất, ham muốn đời thường, thiếu trung thực với tổ chức, song lại biết che đậy kín đáo trước các hành vi bất chính, bất lương. Khi cái lợi đến quá dễ dàng, lâu dần thành thói quen biến thành một sự sùng bái quyền lực, đồng tiền và sự hưởng lạc; đến lúc đó, họ không còn biết tự trọng danh dự, không còn hổ thẹn, cắn dứt lương tâm khi làm điều sai trái; những điều thất đức, phi nhân tính; họ cứ trượt dài, dần dần mất nhân cách người cách mạng. Vì vậy, pháp luật cần phải vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa để chẩn trị, cắt bỏ các chứng bệnh này, làm cho xã hội ta lành mạnh hơn, tốt đẹp hơn.
Cũng cần nói rằng, sự lệch lạc trong suy nghĩ, thoái hóa về tư tưởng chính trị thể hiện rõ ở việc phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, buông lỏng nguyên tắc sinh hoạt Đảng, nói và làm sai nghị quyết, Điều lệ của Đảng là cái gốc đẻ ra các chứng bệnh: phát ngôn thiếu trách nhiệm, thực hiện pháp luật, kỷ luật không nghiêm; quan liêu, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền; áp đặt quan điểm chủ quan, duy ý chí, phiến diện, siêu hình trong quan hệ đạo đức, lối sống nên các hành vi, biểu hiện của nó hết sức phức tạp. Nó vừa là hệ quả, sản phẩm tất yếu do non kém cái này, vừa là nguyên nhân sinh ra cái kia và ngược lại. Sống, sinh họat trong một tổ chức tốt, một người có tư tưởng chính trị lành mạnh, đúng đắn thì họ luôn kiên định, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách, không bao giờ làm những điều sai trái. Mọi cám dỗ, mua chuộc không thể chuyển lay, không vì lợi ích cá nhân mà hy sinh lợi ích tập thể và do đó có cuộc sống trong sạch, lành mạnh, luôn ngẩng cao đầu đúng với tư cách một con người, là một cán bộ, đảng viên nêu tấm gương sáng để mọi người học tập, noi theo.
Rõ ràng là, tư tưởng chỉ đạo hành động. Tư tưởng đúng thì hành động đúng, tư tưởng sai thì hành động sai, “sai một ly là đi một dặm” và nó có thể giết chết một con người, để lại tác hại khôn lường, những hậu quả khó khắc phục cho tập thể, tổ chức và xã hội. Có thể khẳng định rằng, sự suy thoái về tư tưởng chính trị là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến sai lầm, suy thoái về đạo đức, lối sống và ngược lại. Cho nên, muốn không bị suy thoái tư tưởng chính trị dẫn đến các loại suy thoái khác thì chính trị của ta phải mạnh lên, đạo đức, lối sống của chúng ta phải thật sự trong sạch lành mạnh. Một vấn đề có tính nguyên tắc (bất di bất dịch) là phải quan tâm chăm lo công tác giáo dục chính trị tư tưởng; ra sức xây dựng môi trường văn hóa chính trị lành mạnh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước chiếm vị trí thống trị trong đời sống văn hóa - tinh thần xã hội ta. Đồng thời, phải làm tốt hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát, giáo dục cán bộ, đảng viên; kiên quyết xử lý nghiêm minh những người vi phạm pháp luật, kịp thời đưa những cán bộ, đảng viên không đủ tư cách ra khỏi tổ chức đảng; làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, lành mạnh; kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng tình hình, thổi phồng, bóp méo sự thật, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng; hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước ta.
Suy thoái tư tưởng chính trị là một căn bệnh có nguồn gốc từ sự khinh thường vai trò của công tác chính trị, môi trường chính trị, nhất là giáo dục tư tưởng chính trị. Phải khẳng định rằng, ở đâu, nơi nào, môi trường chính trị không tốt, trước hết là cấp ủy, người chỉ huy ở đó đã để tuột hoặc buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, chất lượng sinh họat tổ đảng, sinh hoạt chi bộ và sinh hoạt của các tổ chức quần chúng thấp; đấu tranh tự phê bình và phê bình bị coi nhẹ hoặc bị thủ tiêu, vấn đề dân chủ, công khai, minh bạch kém hiệu quả; người đứng đầu thiếu tinh thần trách nhiệm, v.v., thì ở nơi đó, có nhiều người vi phạm kỷ luật, thậm chí lâm vào tình trạng thoái hóa về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Sự thoái hóa tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống giống như một căn bệnh lây lan nếu không sớm phát hiện và chữa trị kip thời. Mọi biểu hiện của lối sống vụ lợi, thực dụng, thói hư, tật xấu, hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức là hệ quả tất yếu của sự suy đồi tư tưởng chính trị của một tập thể, nhóm người và cá nhân mỗi người; trước hết là người đứng đầu tổ chức đảng, người chủ trì đơn vị.
Cho nên, ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới cắt bỏ căn bệnh này phải đồng thời khắc phục cả suy thoái tư tưởng chính trị, suy thoái đạo đức và suy thoái lối sống; đồng thời, đẩy mạnh công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận, phê phán các quan điểm sai trái, phản động; khôi phục niềm tin trong nhân dân. Không thể có đạo đức, lối sống tốt nếu ai đó bị suy thoái về tư tưởng chính trị. Không thể có tư tưởng chính trị tốt nếu vi phạm chuẩn mực đạo đức, lối sống và “sự lệch chuẩn” của nó đã rơi vào đồi bại, tha hóa. Vấn đề quan trọng hàng đầu là đề cao công tác phòng ngừa; có niềm tin trong đấu tranh chống tiêu cực, chống quan điểm sai trái; không nên để “bệnh tật” xảy ra rồi mới tìm thầy thuốc bắt mạch, kê đơn, bốc thuốc, tìm cách cứu chữa.
Trong bối cảnh tình hình hiện nay, từng tổ chức đảng cần có những giải pháp giúp đỡ một số cán bộ, đảng viên sửa chữa sai lầm, khuyết điểm do “bị thương” bởi “viên đạn bọc đường”, bị mua chuộc bởi bọn làm ăn phi pháp lợi dụng; có lúc đã trở thành tù nhân, nô lệ của đồng tiền, trở lại đội ngũ. Công việc này có giá trị rất tốt là khi các đồng chí ấy quay về đội ngũ sẽ là nhân cốt tích cực trong cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, phản động; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng trưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong tổ chức đảng và trong xã hội ta hiện nay.
 Mối quan hệ giữa suy thoái tư tưởng chính trị, suy thoái đạo đức và suy thoái lối sống là mối quan hệ giữa “kẻ tung người hứng”, a dua tòng phạm, cùng nhau đi đến một chỗ sai là phá bỏ chế độ, nền nếp, trật tự, kỷ cương; dũ bỏ luân thường đạo lý, vi phạm kỷ luật, làm sai luật pháp; gây tiêu cực cho xã hội, cản trở tiến bộ lịch sử. Cho nên, cần hiểu rằng, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là một cơ thể mang mầm bệnh ghép gồm ba chứng bệnh: suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, suy thoái về lối sống; cả ba căn bệnh ấy đều bám nhau, dính chặt trên một cơ thể người bị “lệch chuẩn”; rất khó phân biệt một cách rạch ròi bản chất, nguyên nhân của từng loại bệnh. Ai đó chỉ cần mắc một chứng bệnh là lập tức bị lây nhiễm, mắc các chứng bệnh khác ngay lập tức. Đương nhiên, ổ bệnh gây mầm vẫn là suy thoái về tư tưởng chính trị xét một cách toàn cục mà nói. Tuy nhiên, sự phát bệnh và biểu hiện rõ nhất, dễ nhìn thấy nhất có khi lại bắt đầu từ các hành vi thoái hóa đạo đức, lối sống thông qua các hành động “lệch chuẩn” của nó.
Suy thoái tư tưởng chính trị là dấu hiệu đầu tiên dẫn đến và quy định nguồn gốc, bản chất, tính chất, hình thức biểu hiện của suy thoái về đạo đức, lối sống. Nếu sự suy thoái về tư tưởng chính trị được loại bỏ hoặc mất đi thì sớm hay muộn, suy thoái về phẩm chất đạo đức, nhân cách và lối sống, theo đó cũng sẽ mất theo. Ngược lại, là những hình thức nảy sinh do suy thoái tư tưởng chính trị gây nên nhưng sự suy thoái về đạo đức, lối sống có tính độc lập tương đối. Nó ngấm ngầm hay công khai biểu hiện theo những con đường, cách thức riêng. Trường họp này, công tác tuyên truyền, giáo dục không thể phát huy công dụng, hiệu quả, chỉ đến khi luật pháp vạch mặt, sai trái ấy ở một số người mới bị phơi bày, buộc phải thừa nhận.
Để phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cán bộ, đảng viên cần đặc biệt quan tâm và làm tốt hơn công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng. Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn căn dặn chúng ta điều này, Người rất coi trọng tự phê bình và phê bình trong Đảng. Tư tưởng của Bác về tự phê bình và phê bình là một trong những nội dụng cơ bản, có đóng góp quan trọng trong bảo vệ và phát triển lý luận Mác - Lênin; là nét đặc sắc trong tư tưởng của Người về xây dựng Đảng mácxít - lêninnít, là vũ khí lý luận sắc bén để đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các tiêu cực xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, nắm vững và thực hiện nghiêm túc, thiết thực, hiệu quả.
Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” viết năm 1927, lần đầu tiên, Bác Hồ yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, không kể chức vụ, cấp bậc; không phân biệt người tuổi cao hay còn trẻ tuổi, đều phải tự nhận thức, tự đánh giá, hiểu đúng mạnh yếu của bản thân mình, từ đó mà “cả quyết sửa lỗi của mình…có lòng bày vẽ cho người…hay xem xét người”1.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác quan niệm: “Phê bình là nêu yêu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu yêu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn nhau và giúp nhau sửa chữa khuyết điểm”1. Theo Bác, tự phê bình phải đi đôi với phê bình. Hai mặt này phải kết hợp chặt chẽ, thống nhất với nhau, không thể tách rời nhau; không nên thiên vị, khuyếch đại một mặt nào. Trong mối quan hệ biện chứng này, tự phê bình được coi là tiền đề, là cơ sở cho phê bình. Người nói: “trước ta nói phê bình và tự phê bình, bây giờ phải nói tự phê bình và phê bình. Nói như thế là chú trọng phê bình mình trước, phê bình người sau”2.
Bác căn dặn: “Nói cái xấu phải nói cả cái tốt. Nếu chỉ chuyên nói cái xấu là lệch”3. Do vậy, xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng, nhất là đánh giá con người phải đặc biệt thận trọng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là để tổ chức đảng trong sạch vững mạnh hơn, mỗi người tốt hơn, sau khi được phê bình, tình đồng chí đồng đội tốt hơn, đoàn kết chặt chẽ hơn. Cho nên tự phê bình và phê bình đúng mực, chỉ ra được mặt ưu điểm và cả mặt khuyết điểm, các mặt ấy “có lý có tình”, phù hợp với thực tiễn cuộc sống và tâm lý con người; làm cho người ta “tâm phục khẩu phục”, thấy ưu điểm là đúng, vui vẻ hơn, phán chấn hơn, làm việc tốt hơn; đồng thời, thấy khuyết điểm cũng là đúng nên cũng vui vẻ, thoải mái nghe, tiếp thu, sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ. Không nên dùng tự phê bình và phê bình để phê phán, chỉ trích, miệt thị nhau; làm cho người ta “mất mặt”, làm nhục tinh thần, thể xác con người theo nghĩa “vùi dập nhau”, “triệt hạ nhau”. Theo Bác, khi tự phê bình và phê bình “phải vạch cả ưu điểm và khuyết điểm…phê bình việc làm chứ không phải phê bình người”4. Trong mọi lúc, cái tâm của người phê bình phải sáng, cái đức phải cao; tự phê bình và phê bình sẽ kém hiệu quả nếu thiếu cái tâm, cái đức hoặc cái tâm, cái đức không trong, không sáng; lờ mờ.
Trong hoạt động thực tiễn, người cộng sản dứt khoát không được che đậy, giấu giếm khuyết điểm mà cần công khai phê bình khuyết điểm. Bác viết: “luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình thì khuyết điểm hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”1. Bác cho rằng, “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”2.
 Đối với Đảng, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, tự phê bình và phê bình là “liều thuốc quý”, có tác dụng chữa và cắt được bệnh, đồng thời, bồi bổ, làm người ta phấn chấn, tăng thêm sức khỏe” để phục vụ cách mạng, phụng sự nhân dân. Vì lẽ đó, tự phê bình và phê bình cần cho tất cả mọi người ví như họ cần không khí để thở, nước để uống, để rửa mặt, làm vệ sinh hàng ngày. Bản chất tự phê bình và phê bình là giải quyết mâu thuẫn nội bộ Đảng, củng cố mối quan hệ đoàn kết, thống nhất trong nhân dân, làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng, đưa nó đi đến bến bờ thành công. Tự phê bình và phê bình đã được ghi thành chế độ, quy định chặt chẽ trong Điều lệ Đảng, đảm bảo tính pháp lý để mọi tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên, bất kể là ai, đều phải chấp hành tự phê bình và phê bình nghiêm túc.
Xa rời tự phê bình và phê bình là xa rời bản chất Đảng, là nguy cơ gây ra tình trạng trì trệ, bảo thủ, là chỗ dựa vững chắc của sự tồn tại những khuyết điểm, sai lầm, yếu kém, của sự chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng, tạo kẻ hở để những kẻ xu nịnh, thoái hoá, biến chất tồn tại; bọn cơ hội, xét lại chui vào Đảng, thậm chí, thao túng, lũng đoạn, làm cho Đảng biến chất, thoái hoá, mất sức chiến đấu. Vì vậy, tự phê bình và phê bình vừa là hành động cách mạng vừa là một nghệ thuật vừa mang tính khoa học cao. Việc phê bình, xem xét, đánh giá, chỉ rõ đúng sai nhất thiết phải bảo đảm tính trung thực, khách quan và công khai; phải phân tích kỹ lưỡng điều kiện, hoàn cảnh, nguyên nhân khách quan, chủ quan tạo nên ưu điểm, dẫn đến khuyết điểm; tức là “nói có sách, mách có chứng”; có như vậy, ý kiến đống góp, phê bình mới chính xác, có sức thuyết phục cao. Theo Bác, “khéo” sử dụng “vũ khí” tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng có nghĩa là biết dùng nghệ thuật để quan hệ, ứng xử sao cho thấu lý, đạt tình, công việc chung, riêng đều tốt, đạt hiệu quả.
Vì vậy, phải kiên quyết hơn nữa trong triển khai thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng; kiên quyết đấu tranh, xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; không để những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong tổ chức Đảng “con sâu làm rầu nồi canh”. Đồng thời, đẩy mạnh hơn nữa việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; xây dựng hệ thống pháp luật, các chế độ, quy định thật cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ để ngăn ngừa, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ; chọn đúng người có đức, có tài bố trí vào các vị trí quan trọng, nhất là các vị trí chủ trì cơ quan, đơn vị. Đổi mới cơ chế, chính sách, chế độ đãi ngộ để cán bộ, đảng viên có đủ điều kiện “bảo liêm”, làm tốt việc nêu gương cho quần chúng học tập, noi theo. Chân lý là khách quan và luôn luôn cụ thể. Hãy lấy thực tiễn đời sống của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ và mức sống của họ làm gốc để đánh giá tài năng, đức độ, sự cống hiến của mỗi người, sự trung thành, trong sáng của họ. Đảng ta và nhân dân bao giờ cũng sáng suốt. Người dân lao động trông chờ, chỉ thật sự tin tưởng, đặt niềm tin, hy vọng vào ai, tổ chức nào nếu tổ chức đó, người nào đó sống, chiến đấu, lao động hết lòng vì họ; thật sự chăm lo cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của họ. Điều đó hoàn toàn phù hợp với mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của Đảng ta.
Trong bối cảnh, tình hình mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là tất yếu khách quan và là một nguyên tắc không thể thay đổi. Bởi lẽ, với tư cách là một Đảng cầm quyền, Đảng ta phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về vận mệnh phát triển của dân tộc, sự phát triển và sự phồn vinh của đất nước, về độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Cho nên năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là những điều kiện đủ để Đảng thực hiện sự cầm quyền của mình, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, và nó đã được nhân dân Việt Nam thừa nhận, suy tôn, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất của mình; nhân dân yêu mến, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đàng và gọi tên Đảng với sự trìu mến, gần gũi, thân thương là Đảng ta.
Trước đây cũng như hiện nay, nếu không nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng thì nguy cơ sai lầm về đường lối có thể xảy ra; cán bộ, đảng viên quan liêu, xa nhân dân hơn; nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Thực tiễn cách mạng nước ta đã khẳng định rằng, để lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi, trước tiên Đảng Cộng sản Việt Nam phải đề ra đường lối đúng đắn; đường lối ấy phải được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân…Có như vậy, đường lối ấy mới đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình ủng hộ, tích cực thực hiện và đường lối ấy sẽ trở thành hiện thực. Nếu xem nhẹ hoặc xa rời những điều nêu trên thì đường lối của Đảng đưa ra sẽ không sát thực, không đúng đắn, gây nên hậu quả khó lường. Chính vì vậy, Đảng cầm quyền không được phép sai lầm về đường lối; cán bộ, đảng viên phải làm tốt việc nêu gương, nhất là những người chủ trì cơ quan, đơn vị.
Trước sự biến đổi phức tạp của tình hình thế giới và yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, vấn đề nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là tất yếu khách quan, không có sự lựa chọn nào khác. Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng hãy nỗ lực phấn đấu vươn lên, ra sức xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, giữ vững bản lĩnh chính trị, tận dụng tốt thời cơ, quyết tâm vượt qua mọi nguy cơ, thách thức; lãnh đạo cơ quan, đơn vị khắc phục triệt để những hạn chế, khuyết điểm; phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, chuẩn bị tốt mọi điều kiện để vững tin bước vào thời kỳ mới; sát cánh kề vai cùng nhân dân cả nước xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hãy coi đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là một trong những nhiệm vụ cấp bách của việc chống “giặc nội xâm” như Bác Hồ đã căn dặn chúng ta!.


1 HCM, Đường Kách mệnh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.260
1, 4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996, tr.267, 229-306.
2 ,3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr.206, 322.
1, 2  Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996, tr.265, 261.

VAI TRÒ, THẾ MẠNH CỦA CÔNG TÁC LÝ LUẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI



Quán triệt và thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TW ngày 28 tháng 3 năm 1992 của Bộ Chính trị (khoá VII), công tác lý luận của Đảng ta trong hơn 20 năm qua đã đạt được những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nét nổi bật là Đảng ta đã đổi mới tư duy lý luận, từng bước khắc phục những biểu hiện của “bệnh” giáo điều, kinh nghiệm và chủ quan, duy ý chí; xây dựng và phát triển phong cách tư duy khoa học. Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết 01-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá VII) về công tác lý luận trong tình hình mới, Đảng ta đã ý thức sâu sắc sự cần thiết phải đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và các nội dung có liên quan; nhờ đó, những vấn đề lý luận - thực tiễn phức tạp nảy sinh trong quá trình đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã từng bước được nghiên cứu, giải đáp, làm sáng rõ hơn. Công tác lý luận của Đảng luôn đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tính sáng tạo và sức sống của công tác lý luận của Đảng thể hiện rất rõ ở việc bám sát thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kịp thời nghiên cứu, giải đáp những vấn đề vướng mắc, nảy sinh từ thực tiễn công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; qua đó, cung cấp những luận cứ khoa học, phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội. Văn kiện các kỳ đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị từ Đại hội VIII đến Đại hội lần thứ XI là những minh chứng sinh động về sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về cách mạng Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trên cơ sở phân tích, làm rõ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác lý luận của Đảng đã góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và cách mạng Việt Nam; kịp thời đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, phản động; bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới; làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp của truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc; những tinh hoa tư tưởng, văn hoá tiến bộ trên thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội ta.
Rõ ràng là sự nhất quán về quan điểm, lập trường của Đảng và nhân dân ta trong khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn luôn là sợi chỉ đỏ, xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa định hướng chính trị đúng đắn trong xử lý, giải quyết “có tình có lý” các quan hệ quốc tế và trong nước. Vì vậy, ngoài việc tích cực, chủ động tự đổi mới, nâng tầm cao tư duy lý luận của mình, Đảng ta đồng thời quan tâm đẩy mạnh hợp tác với các Đảng Cộng Sản, các đảng công nhân quốc tế và tất cả các nước nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại; thực hiện tốt các nhiệm vụ và phương châm chỉ đạo mà Nghị quyết 01-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá VII) về công tác lý luận trong tình hình mới đã xác định.
Đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin được nghiên cứu sâu rộng, khám phá được nhiều nét mới, cách tiếp cận mới. Nhiều vấn đề lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin: quan niệm duy vật về lịch sử; học thuyết hình thái kinh tế - xã hội; học thuyết giá trị thặng dư; sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; thời đại; đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, thời kỳ quá độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nhân tố con người, các hình thái ý thức xã hội và vai trò của nó…đã được nghiên cứu, làm sáng tỏ và sâu sắc hơn. Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được nghiên cứu với nhiều cấp độ khác nhau và đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng ta; được xuất bản thành các bộ giáo trình, tài liệu, sách chuyên khảo, thảm khảo có giá trị và tầm ảnh hưởng xã hội rộng lớn. Những kết quả đó đã củng cố cơ sở lý luận vững chắc cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hơn 20 năm qua.
Một trong những thành công của công tác lý luận thời kỳ đổi mới là Đảng ta đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, lý luận; coi trọng và phát huy dân chủ, triệt để khai thác mọi tiềm năng sáng tạo, tâm huyết, trí tuệ của đội ngũ tri thức, các cơ quan lý luận chuyên trách của Đảng, Nhà nước nhằm tạo ra bước phát triển mới trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận của Đảng.
Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác lý luận của Đảng không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Đến nay, mặc dù đã rất cố gắng, song nhận thức lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta mới dừng lại ở nhận định “ngày càng rõ hơn”. Trên thực tế, công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một cuộc “cách mạng vĩ đại” đối với nhân dân ta, sự nghiệp này chưa hề có trong tiền lệ lịch sử dân tộc. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ chủ nghĩa, chúng ta vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, thậm chí có thể mắc phải những sai lầm, khuyết điểm. Đó cũng là một lẽ đương nhiên. Vấn đề là nhìn nhận ra khuyết điểm, sai lầm để vượt qua khó khăn, thách thức, các nguy cơ; tận dụng tốt thời cơ, vận hội để tiến lên. Đó là “mệnh lệnh của cuộc sống”. Đảng ta ý thức rất rõ điều ấy và kiên quyết đấu tranh khắc phục sai lầm, khuyết điểm. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI của Đảng về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay đã chứng minh điều đó. Công tác lý luận của Đảng không thể đứng ngoài cuộc mà cần đổi mới mạnh mẽ, phát huy tốt hơn nữa vai trò, tiềm năng, thế mạnh của mình, nhất là việc đẩy mạnh tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kịp thời cung cấp những luận cứ khoa học chính xác, phục vụ tốt hơn sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta; phấn đấu để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lý luận của Đảng trong tình hình mới, trước hết công tác lý luận của Đảng cần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, đặc biệt là nghiên cứu dự báo, chỉ rõ những tác động của tình hình thế giới và trong nước để có chủ trương, biện pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả.
Vể tác động của bối cảnh quốc tế đến nước ta từ nay đến năm 2020, công tác lý luận cần chỉ rõ: Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy nhanh quá trình hình thành xã hội thông tin và phát triển kinh tế tri thức, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Kinh tế thế giới mặc dù có dấu hiệu phục hồi sau khủng hoảng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất ổn. Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở nên phổ biến. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển. Thời cơ, vận hội và nguy cơ, thách thức đan xen rất phức tạp, khó lường.
Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển nhưng các nước lớn vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế. Hòa bình, độc lập dân tộc, dân sinh, dân chủ, hợp tác vì tiến bộ xã hội và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, hoạt động can thiệp, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường công nghệ, vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao... giữa các nước tiếp tục diễn ra gay gắt. Các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao tiếp tục gia tăng. Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, lương thực, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, các thảm họa thiên nhiên ... tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, buộc các quốc gia phải có chính sách và cùng đối phó và phối hợp hành động. Sẽ xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng và đan xen lợi ích mới; trong đó, sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là các nước lớn sẽ tác động lớn đến nước ta.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á phát triển năng động, nhưng tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, tranh chấp biển Đông ngày càng gay gắt. ASEAN tuy còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong khu vực, tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu. Tình hình đó tạo thời cơ phát triển, đồng thời đặt ra thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước đang và kém phát triển.
Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nhưng một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển; phong trào cộng sản, công nhân quốc tế có bước phục hồi. Tuy nhiên, các nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản, cánh tả còn gặp nhiều khó khăn, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá quyết liệt, tìm cách xóa bỏ các nước chủ nghĩa xã hội còn lại.
Hiện tại, chủ nghĩa tư bản đang tích cực điều chỉnh để thích nghi với điều kiện mới, còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất, vẫn là một chế độ xã hội áp bức, bóc lột và bất công. Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội, vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.
Các nước đang và kém phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc. Nhân dân thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người. .. Việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi sự hợp tác và tinh thần trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc.
Đặc điểm nổi bật giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước có chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh găy gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhưng sẽ có bước tiến mới.
Bối cảnh quốc tế và khu vực đặt ra nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa bức xúc về phát triển, truyền bá hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xây dựng các luận cứ khoa học để bổ sung, hoàn thiện đường lối, chiến lược phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; quản lý thông tin, xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tổ chức thắng lợi cuộc đấu tranh bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Về tình hình trong nước, công tác lý luận cần chỉ rõ: Những thành tựu, kinh nghiệm của gần 27 năm đổi mới đã tạo cho đất nước thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước đổi mới. Những năm tới là giai đoạn kinh tế nước ta phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy giảm, cấu trúc lại nền kinh tế để phát triển nhanh và bền vững; khắc phục những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tập trung xây dựng nông thôn mới; tinh giảm bộ máy nhà nước; thực hiện tốt hơn chính sách về đất đai; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường; tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đây là nhân tố quan trọng củng cố, nâng cao niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước khu vực và thế giới vẫn tồn tại; một số khuyết điểm, yếu kém về ổn định kinh tế vĩ mô, về đầu tư phát triển, nợ công, nợ xấu, thiếu điện, chính sách đất đai, văn hóa, xã hội... chưa thể khắc phục trong thời gian ngắn; hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, thực thi pháp luật chưa nghiêm. Tình trạng suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, quan liêu, tham nhũng còn nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị - xã hội ở nước ta.
Tình hình trên sẽ tạo ra cả những thời cơ và thách thức mới, đan xen với nhau, có nhiều biến động phức tạp, công tác lý luận của Đảng cần thường xuyên theo dõi, dự báo để có chính sách phản ứng thích hợp nhằm tận dụng tốt thời cơ và đối phó có hiệu quả với những nguy cơ, thách thức trong quá trình phát triển đất nước từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Vì vậy, mục tiêu của công tác lý luận từ nay đến năm 2020 là: Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận có tính nguyên tắc để kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và làm sáng rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trước mắt, công tác lý luận của Đảng cần tập trung đổi mới căn bản và toàn diện nội dung và phương pháp. Kiên quyết chống các quan điểm thù địch, sai trái, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng. Đẩy mạnh nghiên cứu, kế thừa và vận dụng sáng tạo những tinh hoa tư tưởng, văn hóa, thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới vào phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Triển khai đồng bộ và sâu rộng công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị nhằm phát huy chủ nghĩa yêu nước, phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực sáng tạo, ý chí tự lực tự cường; khơi dậy và nâng cao ý chí cách mạng, tinh thần đại đoàn kết dân tộc; quyết tâm nắm bắt và tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức; cỗ vũ phong trào thi đua yêu nước, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; động viên tinh thần chủ động, sáng tạo trong lao động, học tập và công tác của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, hoàn thành tốt nhiệm vụ, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Tăng cường nghiên cứu khoa học lịch sử; dự báo các xu thế phát triển của khu vực và thế giới, hội nhập quốc tế, nâng cao vai trò của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu.
Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận và các cơ quan lý luận của Đảng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân chuẩn bị văn kiện phục vụ Đại hội XII của Đảng và tổng kết 30 năm đổi mới toàn diện đất nước; đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Bám sát thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, công tác lý luận của Đảng từ nay đến năm 2020, cần làm tốt hơn các quan điểm chỉ đạo và các định hướng cơ bản sau đây:
Một là, kiên định quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Nhận thức đúng vị trí, vai trò của công tác lý luận trong xây dựng Đảng và hoạt động lãnh đạo của Đảng. Hoạt động lý luận của Đảng có liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự thành bại của cách mạng Việt Nam.
Hai là, đổi mới, phát triển công tác lý luận của Đảng là một động lực quan trọng để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; làm sáng rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới.
Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn, cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho việc xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới của Đảng, góp phần tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.
Bốn là, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có đội ngũ cán bộ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học và công nghệ có trình độ cao, tâm huyết, trung thực, tận tuỵ. Phát triển các tổ chức, tập thể khoa học mạnh, các nhà khoa học lý luận đầu ngành. Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học xã hội và nhân văn; coi trọng công tác đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ  của Đảng. Đổi mới cơ chế, chính sách, tạo động lực phát triển đội ngũ trí thức, cán bộ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và khoa học xã hội và nhân văn.
Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước; phát huy vai trò các cơ quan lý luận, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lý luận, cán bộ khoa học, tạo bước phát triển đột phá trong nghiên cứu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lý luận của Đảng đáp ứng yêu cầu

"ĐỀ CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM" NĂM 1943 - SỨC SỐNG CỦA MỘT VĂN KIỆN



Đề cương về văn hóa Việt Nam do Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư  Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta khởi thảo và được công bố năm 1943 trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai đang lan rộng và ngày càng ác liệt. Ở Việt Nam, tình hình kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa - xã hội rất phức tạp, mâu thuẫn giai cấp và dân tộc ngày càng sâu sắc thêm. Nhân dân ta không những chịu cảnh “một cổ hai tròng” do quân xâm lược Nhật, Pháp gây nên mà còn lâm vào tình cảnh lầm than, cơ cực do bè lũ tay sai “bóp nặn” một cách dã nan, tàn ác. Đã thế, Phát xít Nhật và thực dân Pháp lại thi nhau vơ vét, bóc lột và đàn áp nhân dân, khủng bố phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Căm phẫn quân xâm lược sâu hơn vực thẳm, ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược cao ngút trời Nam.
Trước cảnh nước mất, nhà tan, nghe theo tiếng gọi của Đảng, nhân dân ta đã đứng lên đánh giặc cứu nước; các tổ chức vũ trang cách mạng lần lượt ra đời; phong trào quyên góp lương thực, vũ khí, thuốc men, đưa con em tham gia các đội quân cách mạng diễn ra khắp buôn làng, ngõ xóm. Trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên yêu nước chịu ảnh hưởng của cách mạng đã đứng lên đấu tranh chống lại phát xít Nhật và thực dân Pháp, đòi lại quyền tự do, độc lập cho dân tộc. Thế nhưng, quân phát xít và thực dân đã cấu kết với bè lũ tay sai, dùng các thủ đoạn dã man, tàn ác, kể cả thủ đoạn “trói buộc vǎn hoá và giết chết vǎn hoá Việt Nam” để thực hiện mưu đồ xâm lược của chúng.
Trong bối cảnh ấy, Đảng ta và Bác Hồ kính yêu đã quyết định triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng từ ngày 25 đến 28-2-1943 để bàn biện pháp đối phó với tình hình, quyết tâm đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng trong cả nước, tiến tới chặn đứng và đập tan âm mưu, thủ đoạn xâm lược của phát xít Nhật và thực dân Pháp. Từ thực tiễn hơn chục năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lại đứng trước những việc cần kíp phải làm ngay để kịp thời ngăn chặn tàn bàn tay nhuốm máu đầy tội ác của phát xít Nhật và thực dân Pháp; Đảng ta nhận định rằng, trong lúc này, Đảng cần phải có các tổ chức và đội ngũ cán bộ chuyên môn hoạt động về văn hoá, văn nghệ để gây dựng và thúc đẩy phong trào văn hoá tiến bộ, văn hoá cứu quốc nhằm chống lại văn hoá phát xít thụt lùi, văn hóa phong kiến bảo thủ, lạc hậu...Vì vậy, tại Hội nghị Thường vụ Trung ương lần này, Đảng ta khẳng định rõ thái độ của mình đối với vấn đề vǎn hoá và nó được ghi rõ trong Đề cương về văn hóa Việt Nam công bố năm 1943:
“1. Phạm vi vấn đề: Vǎn hoá bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. 2. Quan hệ giữa vǎn hoá và kinh tế, chính trị: nền tảng kinh tế của một xã hội và chế độ kinh tế dựng trên nền tảng ấy quyết định toàn bộ vǎn hoá của xã hội kia (hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc). 3. Thái độ Đảng Cộng sản Đông Dương đối với vấn đề vǎn hoá:
a) Mặt trận vǎn hoá là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, vǎn hoá), ở đó người cộng sản phải hoạt động.
b) Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng vǎn hoá nữa.
c) Có lãnh đạo được phong trào vǎn hoá, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả.”[1]
Có thể khẳng định rằng, Đề cương văn hoá Việt Nam là bản cương lĩnh văn hoá đầu tiên của Đảng ta, đã nêu ra hai ức thuyết về tiền đồ văn hoá Việt Nam. Một là, "nền văn hoá phát xít (văn hoá trung cổ và nô dịch hoá) thắng thì văn hoá dân tộc Việt Nam nghèo nàn và thấp kém. Hai là, văn hoá dân tộc Việt Nam sẽ do cách mạng dân chủ giải phóng thắng lợi mà được cởi mở xiềng xích và sẽ đuổi kịp văn hoá dân chủ thế giới"[2]. Trong Đề cương, Đảng ta đặt vấn đề: Trong “Hai ức thuyết, cái nào sẽ trở nên sự thực?” và khẳng định: " Cǎn cứ vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội hiện nay, cách mạng dân tộc Việt Nam nhất quyết sẽ làm cho ức thuyết thứ hai trở nên thực sự".[3]
Trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời đó, “vǎn hoá nửa phong kiến, nửa tư sản và hoàn toàn có tính cách thuộc địa” thống trị thì sự ra đời của Đề cương văn hoá Việt Nam có thể coi là một ngọn đuốc sáng thần kỳ, có tác dụng soi đường, chỉ lối và định hướng tư tưởng, nhận thức, phương châm hoạt động văn hóa, văn nghệ cho toàn Đảng, toàn dân và cuộc đấu tranh cách mạng ở Việt Nam; đặc biệt là nó đã lôi cuốn, thuyết phục và tập hợp đông đảo những người hoạt động văn hoá yêu nước Việt Nam vào Hội văn hoá cứu quốc, một thành viên của Mặt trận Việt Minh; khai sinh và phát triển nền “vǎn hoá xã hội chủ nghĩa” ở nước ta. Vì vậy, Đảng nhấn mạnh: “Những phương pháp cải cách vǎn hoá đề ra bấy giờ chỉ là dọn đường cho cuộc cách mạng triệt để mai sau”, tức là chuẩn bị cho “cách mạng chính trị thành công”.
Trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận biện chứng duy vật, Đề cương văn hoá Việt Nam đã luận giải một cách sắc sảo tình hình tư tưởng, văn hoá, xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, chỉ ra sự tác động của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai và tội ác tột cùng của phát xít Nhật cùng thực dân Pháp cấu kết với bọn tay sai, bán nước giầy xéo Tổ quốc Việt Nam. Đề cương cũng chỉ rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn dã man, tàn ác của phát xít Nhật và thực dân Pháp trong việc trói buộc và bức tử nền văn hoá nước ta; qua đó, cảnh báo nguy cơ có thể bị diệt vong đối với một quốc gia dân tộc có bề dầy truyền thống lịch sử, văn hóa, có độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ dưới gót dày quân xâm lược: phát xít Nhật và thực dân Pháp.
 Vì vậy, nhiệm vụ cần kíp của những người cộng sản và các nhà văn hóa cách mạng ở Đông Dương, của cách mạng văn hóa, tư tưởng ở Việt Nam lúc bấy giờ được Đảng ta khẳng định là đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của quân xâm lược và bè lũ tay sai, cứu lấy nước, giữ lấy nhà, bảo vệ cho được các giá trị văn hóa dân tộc, phẩm giá, nhân cách con người Việt Nam. Để làm tròn sứ mệnh cao cả, thiêng liêng của mình, Đảng ta khẳng định: “cách mạng vǎn hoá muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo” và nó phải thực hiện nghiêm túc nguyên tắc mác xít - lêninnít. Mục tiêu, con đường, phương châm, nguyên tắc, phương pháp thực hiện cuộc cách mạng văn hóa ở nước ta, trước hết phải nắm vững “ba nguyên tắc vận động cuộc vận động vǎn hoá nước Việt Nam trong giai đoạn này:
a) Dân tộc hoá (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa khiến cho vǎn hoá Việt Nam phát triển độc lập).
b) Đại chúng hoá (chống mọi chủ trương hành động làm cho vǎn hoá phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng).
c) Khoa học hoá (chống lại tất cả những cái gì làm cho vǎn hoá trái khoa học, phản tiến bộ)”[4].
Trên cơ sở nắm vững và thực hiện nhất quán ba nguyên tắc nêu trên, Đảng ta đồng thời khẳng định: “Muốn cho ba nguyên tắc trên đây thắng, phải kịch liệt chống những xu hướng vǎn hoá bảo thủ, chiết trung, lập dị, bi quan, thần bí, duy tâm, v.v.. Nhưng đồng thời cũng phải chống xu hướng vǎn hoá quá trớn của bọn tờrốtkít”[5]. Trước mắt, tích cực đấu tranh, vạch trần những hạn chế, khuyết điểm của các “học thuyết, tư tưởng (đánh tan những quan niệm sai lầm của triết học Âu, Á, có ít nhiều ảnh hưởng tai hại ở ta: triết học Khổng, Mạnh, Đềcác (Descartes), Bécsông (Bergson), Cǎng (Kant), Nítsơ (Niesche), v.v. ; làm cho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng”, “Tranh đấu về tông phái vǎn nghệ (chống chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng, v.v.) làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng” [6].
Căn cứ vào các điều kiện khách quan của tình hình thế giới và tác động, ảnh hưởng của nó đến sự biến đổi tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam; sự phát triển rộng khắp của phong trào đấu tranh cách mạng chống quân xâm lược và bè lũ tay sai; ngay sau khi công bố Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, những người cộng sản và các nhà văn hoá, trí thức yêu nước đã tin tưởng, nhiệt tình ủng hộ, tổ chức nhiều cuộc vận động xây dựng nền văn hóa mới - văn hóa cách mạng, văn hóa xã hội chủ nghĩa. Trong các văn kiện, sách báo của Đảng, trên các phương tiện thông tin đại chúng có được lúc bấy giờ đều nhất quán khẳng định giá trị tư tưởng, quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” của Đề cương văn hóa Việt Nam, quyết tâm thực hiện và đưa vào đời sống quan điểm, tư tưởng, mục tiêu và ba nguyên tắc "dân tộc hoá", "đại chúng hoá", "khoa học hoá" của nền văn hoá Việt Nam mà Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra. Đồng thời, làm cho "xu trào văn hoá mới của Việt Nam đang cố vượt hết mọi trở lực để nảy nở... ", xâm nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống nhân dân và phong trào cách mạng đang lên. Việc khẳng định thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, phương pháp luận biện chứng duy vật của Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 trong các tài liệu, sách báo văn hóa cách mạng từ Nam ra Bắc, từ miền ngược đến miền xuôi đã được triển khai thực hiện thống nhất, xu hướng phát triển tốt, tác dụng ngày càng cao, hỉệu quả rất thiết thực.
Lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam đều chỉ ra rằng, cái gốc của đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng không phải cái gì khác mà chính là Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943 và từ cái gốc dễ “nguồn cội” ấy, cây “văn hóa, văn nghệ xã hội chủ nghĩa” ở nước ta đã đâm chồi, nảy lộc, vươn cành ngày càng xanh tươi, nở hoa, kết trái, đã và đang đem lại hương thơm, vị ngọt cho đời
Cái gốc dễ “nguồn cội” của nền văn hóa mới - văn hóa xã hội chủ nghĩa, của đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng ta chính là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hoá, là “thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử” -  hạt nhân lý luận của hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và phương pháp luận cách mạng đúng đắn nhất để “nhận thức và cải tạo thế giới” vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, tha thiết yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc; là phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa được Đảng ta vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam; được những người cộng sản, các nhà tư tưởng, văn hóa Việt Nam đón nhận, bổ sung, phát triển, làm giàu có, phong phú và sâu sắc thêm từ đời sống thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam. Và chính nó đã trở thành động lực tinh thần to lớn, có tác dụng thức tỉnh các tầng lớp nhân dân; thu hút, lôi cuốn, thuyết phục không ít các văn nghệ sĩ, binh lính người Việt tham gia quân đội phát xít, thực dân, đế quốc; làm tay sai cho địch đã quay về với cách mạng, “đồng cam cộng khổ” cùng đồng bào, chiến sĩ cả nước “nếm mật, nằm gai” dũng cảm, mưu trí, sáng tạo chiến đấu chống kẻ thù xâm lược; từng bước đưa cách mạng đi đến thắng lợi, thực hiện thành công cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, sáng lập nên nhà nước của giai cấp công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á; thực hiện thống nhất nước nhà, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Cái gốc dễ “cội nguồn” của nền văn hóa mới, văn hóa xã hội chủ nghĩa, của đường lối văn hóa, văn nghệ ở nước ta, nói cho cùng, là đường lối chính trị đúng đắn, sáng tạo, nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở nước ta, văn hoá văn nghệ xã hội chủ nghĩa do Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo và nó luôn luôn được coi là “một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hoá) để thực hiện mục tiêu “cải tạo xã hội”; phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Điều đó hoàn toàn đúng với lời chỉ dẫn của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, khi các ông nhấn mạnh vị trí, vai trò của văn hóa cách mạng trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù để xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, thực hiện sứ mệnh: giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và giải phóng nhân loại. Sự đúng đắn và nhất quán đó chứa đựng nhân tố phát triển liên tục, bền vững, bao hàm văn hóa Đảng trong đó và nó mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Với sự ra đời của Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943, hoạt động của các tổ chức văn hóa, văn nghệ của Đảng, nhất là hoạt động sáng tạo của các nhà báo, nhà văn, nghệ sĩ ngày càng phong phú và sắc bén; họ luôn bám sát nhiệm vụ Đảng giao, phản ánh sắc xảo, sinh động đời sống thực tiễn đấu tranh cách mạng, kịp thời động viên, cỗ vũ phong trào toàn dân thi đua tăng gia sản xuất, giết giặc lập công, xây dựng đời sống văn hóa mới. Sự “lột xác” của không ít văn nghệ sĩ thể hiện ở chỗ dám trút bỏ “bộ cánh ủy mị, thướt tha”, tâm hồn mộng mơ, suốt ngày “du với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”, thậm chí “để tâm hồn treo ngược ở cành cây, hay lả lướt đìu hưu cùng ngọn gió” để quay về với đời sống hiện thực, hòa mình vào cuộc sống chiến đấu, lao động, học tập của đồng bào, biết “dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ, mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền” (Sóng Hồng). Vì vậy, trong sáng tác và tác phẩm của họ đã sáng ngời “ánh thép” và các văn nghệ sĩ đã biết “xung phong”. Khẳng định điều này, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết: “Người đã thay đổi đời tôi, thay đổi thơ tôi”.
Đi theo cách mạng, tắm mình trong thực tiễn, trực tiếp cầm bút và cầm súng chiến đấu; sử dụng sáng tạo phương pháp sáng tác xã hội chủ nghĩa, các văn nghệ sĩ nước ta thật sự đã trở thành những dũng sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, lý luận của Đảng; đã góp phần to lớn vào việc đưa ánh sáng của Đảng đến với đồng bào, chiến sĩ, củng cố niềm tin chiến thắng cho họ; qua đó, thổi luồng không khí cách mạng vào đời sống xã hội Việt Nam; làm cho kẻ thù lo sợ. Nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị ra đời, khắc họa sinh động hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ”, phản ánh sát thực chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; có tác dụng tuyên truyền, giáo dục to lớn...
Đáng kể trong kho tàng văn hóa, văn nghệ cách mạng là những bức thư, bài nói viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và của các văn nghệ sĩ về văn hoá, văn nghệ; là các văn kiện, tài liệu và nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng; đặc biệt là Nghị quyết Trung ương Năm, khoá VIII (bước phát triển cao dựa trên nền móng Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhờ đó, đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng ngày càng sáng rõ, tỏa sáng; các tổ chức văn hóa, văn nghệ ở nước ta ngày càng được củng cố, phát huy tốt hơn vai trò, tác dụng. Lý luận văn hoá, văn nghệ Việt Nam ngày càng phong phú và sắc nét. Văn hóa, văn nghệ đã và đang có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước, đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Với đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang ra sức xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; làm cho văn hoá thật sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc của nhân dân. Ở nước ta, văn hóa luôn luôn là một mặt trận; chăm lo xây dựng, phát triển văn hoá là chăm lo cũng cố nền tảng tinh thần của xã hội và nó là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức, các văn nghệ sĩ giữ vai trò quan trọng. Trong những năm đổi mới toàn diện đất nước, Đảng, Nhà nước, các bộ ngành, địa phương, các tổ chức chính trị, văn hóa, xã hội đã và đang quan tâm xây dựng mới, bổ sung, hoàn thiện nhiều văn bản pháp luật, các nghị định, thông tư nhằm điều chỉnh và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ phát triển, phù hợp với tình hình mới. Theo đó, các thiết chế văn hóa từ trung ương đến địa phương cũng được kiện toàn, củng cố và ngày càng được tăng cường. Nhiều công trình văn hóa mới được xây dựng và đang hoạt động có hiệu quả như thư viện, bảo tàng, tượng đài các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa. Đời sống văn hoá, văn nghệ ở cơ sở có bước phát triển, thu hút đông đảo cán bộ, chiến sĩ và quần chúng nhân dân tham gia sáng tạo, hưởng thụ và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống và cách mạng. Việc chấn hưng nền văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là những minh chứng hùng hồn khẳng định sự nhất quán, sức sống bền vững của đường lối văn hóa, văn nghệ đúng đắn đã được Đảng ta vạch ra từ Đề cương văn hoá Việt Nam năm1943.
Kỷ niệm 70 năm ngày ra đời Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 là dịp tốt để chúng ta ôn lại và nhìn thấy rõ hơn những giá trị soi đường, tác dụng định hướng của Đề cương; qua đó nhận thức đúng hơn nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn mới. Chúng ta đang đứng trước những thời cơ, vận hội lớn, song cũng đang đối mặt với những khó khăn, thách thức mà toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra cần phải giải quyết.
Để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, văn nghệ cách mạng; coi sự nghiệp phát triển văn hóa, văn nghệ là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; đầu tư cho văn hóa, văn nghệ là đầu tư cho con người và cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Vì vậy, giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc; đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch, đầu tư ngân sách xây dựng, phát triển các thiết chế văn hóa, công trình văn hóa mới; tích cực đào tạo, bồi dưỡng, phát huy các tài năng văn hóa nghệ thuật; kích thích, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cũng như đổi mới công tác quản lý các hoạt động trong lĩnh vực này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trong bối cảnh hiện thời, đẩy mạnh và thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật; phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm là một giải pháp tích cực; tạo ra động lực mới khuyến khích sự đóng góp sức người, tiền của từ các doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nhân dân để phát triển văn hóa, nghệ thuật là rất cần thiết. Quan tâm khuyến khích các văn nghệ sĩ lao động sáng tạo để có nhiều tác phẩm, công trình có chất lượng tốt, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội, mang tầm vóc thời đại; có biện pháp tối ưu để giữ gìn, phát huy các di sản văn hóa dân tộc. Đồng thời, tiếp tục sáng tạo, bồi đắp, bổ sung những giá trị văn hóa mới, trên cơ sở mở rộng hợp tác, giao lưu văn hóa với các nước; tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tinh hoa văn hóa, nghệ thuật nước ngoài để bổ sung, làm giàu có bản sắc, tâm hồn, cốt cách, nhân cách người Việt Nam hiện đại. Tích cực đấu tranh bài trừ các sản phẩm văn hóa độc hại, phản động, đồi trụy; khắc phục thái độ xem nhẹ vai trò văn hóa và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Phấn đấu thực hiện thắng lợi chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ mà Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đã vạch ra là  quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của chúng ta.


1,2,3 Xem Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr. 316 - 321.


[4] Xem Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.316 - 321
[5] Xem Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.316 - 321
[6] Xem Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.316 - 321.


SỰ SỐNG SƯỢNG CỦA NHỮNG NGƯỜI “BUÔN CHUYỆN”



Trước những biến động lớn của tình hình thế giới, đặc biệt là trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu; sự đổi mới, thích nghi và phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại, cũng như việc chậm khắc phục những hạn chế, bất cập của nền kinh tế bao cấp và một số hiện tượng tiêu cực trong quá trình đổi mới đất nước, một số người đã dao động, giảm lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Với cái gọi là “kiến nghị tâm huyết” với Đảng, Nhà nước, một số người nhân danh “cấp tiến” đề xuất giải pháp nhằm “thay máu cho hệ tư tưởng”, “phục sinh chủ nghĩa dân tộc” và “sửa lại chủ nghĩa Mác - Lênin” cho hợp thời và sát với thực tế Việt Nam. Có kẻ còn “sám hối” rằng, cả đời mình đã tin theo một học thuyết sai lầm, đi theo một con đường không đúng nên “rơi vào tình cảnh éo le, bế tắc”, “cùng đường”; nay nhận thức lại “thấy chủ nghĩa tư bản là lời giải đáp đầy đủ cho mọi vấn đề đặt ra trong cuộc sống của loài người”. Vì vậy, phải “giã từ chủ nghĩa xã hội” để đi theo chủ nghĩa tư bản.
Gần đây, trên một số hội thảo quốc tế, người ta bàn nhiều về số phận của học thuyết Mác. Phần đông các học giả đều thừa nhận giá trị khoa học, cách mạng của học thuyết Mác, đều khẳng định sự cần thiết phải có học thuyết Mác trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, “chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là của quá khứ”, “chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, XX; không phù hợp với thời đại ngày nay”, “chủ nghĩa Mác - Lênin đã chết cùng với sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu”. Trắng trợn hơn họ còn xuyªn t¹c: “C.Mác và V.I.Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng”, học thuyết Mác chỉ là “sự sao chép sống sượng” chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học Anh và triết học cổ điển Đức; là “sản phẩm lai tạo”, “hỗn hợp” mang tính chủ quan, áp đặt, “được nặn ra từ những cái đầu thiển cận của C.Mác và Ph.Ăngghen”.
ë nước ta, lợi dụng các cuộc hội thảo khoa học, một số người đã đưa ra nhiều lý lẽ ®Ó phê phán, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã chọn; xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Điều hết sức nguy hiểm là các quan điểm sai trái này bằng nhiều hình thức đã được tán phát, lan truyền rất nhanh, được đưa lên mạng Internet, công bố trên các sách báo, đài phát thanh của các thế lực thù địch. Vì thế, chúng đã và đang gieo rắc hoang mang, hoài nghi cho nhiều người, để lại những hậu quả không thể xem thường trong xã hội ta. Bằng cách này, họ muốn “chuyển lửa về quê nhà”, tạo nên sự “diễn biến bên trong” xã hội ta, trước hết là diễn biến về nhận thức, tư tưởng; từ đó dẫn đến những diễn biến về mặt khác.
Chúng ta không hề ngạc nhiên trước những quan điểm xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin, vì những “điệp khúc” này đã ®­îc “tua” nhiều lần kể từ khi chủ nghĩa Mác ra đời cho đến nay; chỉ có điều nó được thể hiện rất khác nhau bởi các “ngữ điệu” khác nhau qua các kiểu loại kẻ thù “lớn nhỏ” của C.Mác. Vì sao họ lại chống chủ nghĩa Mác một cách điên cuồng và quyết liệt như vậy? Hẳn là họ ý thức rất rõ sức sống mãnh liệt cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa Mác đối với sự tồn tại, phát triển và lợi ích của họ, nhất là khi chủ nghĩa Mác - Lênin trë thµnh hệ tư tưởng thống trị của giai cấp công nhân, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam. Hẳn là họ hiểu rằng, chừng nào còn chủ nghĩa Mác - Lênin thì chừng ấy còn có Đảng Cộng sản, còn có phong trào công nhân và cuộc đấu tranh của giai cấp này tất yếu sẽ tiêu diệt họ; chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản tất yếu sẽ được xây dựng thành công. Do đó, họ sẽ bị diệt vong. Sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn có hại cho họ, hẳn là họ không mong muốn mình có kết cục “bi thảm” như thế; họ không thể ngồi nhìn sự “chết dần, chết mòn” của mình; họ không thể “chịu đựng nổi” uy tín và vai trò ngày càng tăng lên của Đảng Cộng sản, ưu thế và sự hồi sinh của chủ nghĩa xã hội. Để cứu lấy mình, họ buộc phải dùng mọi biện pháp, thủ đoạn ®Ó chống phá, hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin.
Kể từ năm 1930, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ VII (năm 1991) đến nay, Đảng và nhân dân ta luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam. Ngay sau đó, trên các sách báo, đài phát thanh của các thế lực thù địch, luôn có những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Chúng không chỉ phê phán, phủ nhận các luận điểm, mà còn xuất phát từ cội nguồn, gốc rễ, lịch sử hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ®Ó phê phán. Vì kẻ thù hiểu rõ, chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời ở châu Âu, được truyền bá sang Việt Nam thông qua các tài liệu dịch thuật. Người Việt Nam hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin thông qua nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và các tài liệu dịch thuật do Hồ Chí Minh  chuyển về nước.
Tuy nhiên, do nhiều lý do nên chỉ có một bộ phận nhân dân Việt Nam có điều kiện đọc, nghiên cứu và hiểu được những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, còn phần đông nhân dân lao động mới hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin ở những điểm căn bản nhất. Trong đó có một vấn đề cơ bản là lịch sử quá trình hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin thì rất ít người Việt Nam hiểu biết tường tận, sâu sắc. Lợi dụng điểm hạn chế này, kẻ thù đã xuyên tạc, bóp méo sự thật về nguồn gốc và bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
 Với hy vọng “mưa dầm thấm lâu”, “nước chảy đá mòn”, chóng nhiều lần ®­a ra các luận điểm chống chủ nghĩa Mác, làm cho một số người nhẹ dạ, cả tin “tán thưởng, hùa theo”, nói xấu chủ nghĩa Mác - Lênin, ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Để những người này tỉnh ngộ, nhận thức ra lẽ phải, trong công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, chóng ta cần làm rõ bản chất khoa học, cách mạng của quá trình hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là một “liều thuốc đặc hiệu” có thể cắt đứt “căn bệnh hoang tưởng” của những người ảo tưởng về lòng tốt, đức tính “nhân từ”, “b¸c ái” của chủ nghĩa tư bản.
Chủ nghĩa Mác đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX ở nước Đức, do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập. Ban đầu, chỉ là “một bóng ma ám ảnh châu Âu”, song vào những năm 70 của thế kỷ XIX, nó đã trở thành hệ tư tưởng thống trị phong trào công nhân quốc tế, là cương lĩnh và là nền tảng tư tưởng của các Đảng Cộng sản; đến năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, hệ thống các nước chủ nghĩa xã hội ra đời. Điều đó chứng minh rằng, chủ nghĩa Mác không phải là “một học thuyết bè phái” mà là một học thuyết khoa học và cách mạng. Bằng lao động sáng tạo, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chuyển chủ nghĩa xã hội không tưởng thành lý luận khoa học và V.I.Lênin đã ®­a lý luận khoa học vào thực tiễn cuộc sống, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại; mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới và cách mạng vô sản.
Chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sử, từ các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan đã phát triển chín muồi chứ kh«ng ph¶i “được nặn ra từ những cái đầu thiển cận, mang nặng tính chủ quan, áp đặt của C.Mác và Ph.Ăngghen” nh­ ng­êi ta cè t×nh xuyªn t¹c.
Ai cũng biết rằng, vào những năm 40 của thế kỷ XIX, lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản phát triển rất mạnh mẽ, ưu thế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được khẳng định và cách mạng tư sản đã thắng lợi. ThÕ nh­ng, ngn c “t do, bình đẳng, b¸c áivà những lời hứa của giai cấp tư sản trong qu¸ tr×nh c¸ch m¹ng, giờ đây chỉ còn lại là “chiếc bánh vẽ”. Thành quả và lợi ích của cuộc cách mạng tư sản đã bị giai cấp tư sản chiếm đoạt mà không hề đếm xỉa đến lợi ích của những người bạn đồng minh là giai cấp vô sản - những người đã xông pha lửa đạn, hy sinh xương máu làm nên thắng lợi của cách mạng.
Bị lừa dối và phản bội, giai cấp vô sản đã thức tỉnh và họ hiểu rằng, kẻ thù của mình không phải là “máy móc” mà chính là giai cấp tư sản. Vì vậy, họ đã liên hợp lại, kiên quyết đứng lên đấu tranh đòi lại quyền sống cho mình. Cuộc đấu tranh “một mất một còn” của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ngày càng quyết liệt.
C.Mác và Ph.Ăngghen sống trong thời đại ấy, tận mắt chứng kiến các biến cố lịch sử, đã phát hiện ra vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản - những người “đào huyệt” chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Các ông đã xây dựng lý luận khoa học, cách mạng là chủ nghĩa Mác để trang bị cho giai cấp công nhân. Tất cả những điều nêu trên chỉ diễn ra trong thập kỷ thứ ba và thứ tư của thế kỷ XIX, khi mà C.Mác và Ph.Ăngghen đang ở độ tuổi trưởng thành; những điều kiện khách quan này đã phát triển và đạt độ chín muồi, tác động trực tiếp đến C.Mác và Ph.Ăngghen, cho phép c¸c «ng tiếp thu, kế thừa và xây dựng học thuyết khoa học, cách mạng. Đó cũng là điều giải thích rõ: Tại sao các bậc tiền bối của C.Mác và Ph.Ăngghen lại không thể phát hiện ra vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và các bậc tiền bối ấy không thể xây dựng nên học thuyết khoa học, cách mạng cho giai cấp vô sản mặc dù họ chỉ hơn C.Mác 10 - 15 tuổi. Những ai nói rằng, chủ nghĩa Mác được “nặn ra từ những cái đầu thiển cận của C.Mác và Ph.Ăngghen...” hẳn là phải học lại bài học lịch sử này.
Chủ nghĩa Mác - hệ tư tưởng của giai cấp vô sản không phải là “sự ba hoa của kẻ làm trò ảo thuật, mà là sự chứng minh bởi lịch sử của khoa học hiện đại”. Để xây dựng học thuyết của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa tất cả những tinh hoa trí tuệ trong lịch sử tư tưởng nhân loại. V.I.Lênin viết: “Lịch sử triết học và lịch sử khoa học xã hội chỉ ra một cách hoàn toàn rõ ràng rằng, chủ nghĩa Mác không có gì là giống “chủ nghĩa tông phái”, hiểu theo nghĩa là một học thuyết đóng kín và cứng nhắc, nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới”. Người còn chỉ rõ, học thuyết của C.Mác “ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp những học thuyết của những đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị và trong chủ nghĩa xã hội”1. Về điều này, bản thân C.Mác, từ năm 1846, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, đã nói rõ. 40 năm sau, tức là vào năm 1886, trong tác phẩm: “L.Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, Ph.Ăngghen đã giải đáp tường tận nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác, nói rõ C.Mác đã kế thừa những giá trị của các bậc tiền bối và đã độc lập nêu ra các quan điểm của mình như thế nào. Ph.Ăngghen coi đó là “việc làm danh dự” rất cần thiết để “trả món nợ lương tâm” mà 40 năm trước, C.Mác đã trình bày vấn đề này trong “Hệ tư tưởng Đức”, nhưng thời đó, “Hệ tư tưởng Đức” chưa được xuất bản. Gọi là đọc chủ nghĩa Mác, hiểu chủ nghĩa Mác mà lại không rõ những chi tiết này, để rồi coi chủ nghĩa Mác là “học thuyết đẻ non”, “là sản phẩm sống sượng”, “nặn ra từ những cái đầu thiển cận của C.Mác và Ph.Ăngghen”, là “sự sao chép học thuyết của Aristốt, Ric¸cđô; Xanhximông, Hêghen, Phoiơbắc” thì như thế râ rµng là sù xuyªn t¹c tr¾ng trîn.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu và kế thừa kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học của Hêghen và Phoiơbắc. Ph.Ăngghen cho rằng, C.Mác vĩ đại bởi vì ông “biết đứng trên vai của những người khổng lồ”: Đó là Ricacđô, A.smít, Xanhximông, Phuriê, Hêghen và Phoiơbắc..., không có các vị ấy, chắc chắn không thể có chủ nghĩa Mác. Chính “tư tưởng tiến bộ” và “hạt nhân hợp lý” trong học thuyết của các bậc tiền bối đã được C.Mác kế thừa, bằng cách gạn lọc bỏ 9 phần bả, lấy một phần chất để xây dựng nên học thuyết khoa học, cách mạng cña m×nh. Với tính cách là những bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử đều có sự biến đổi về chất so với nguồn gốc của chúng. Coi chủ nghĩa Mác như “sự lắp ghép cơ học của kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và triết học cổ điển Đức” lµ không hiu ®óng b¶n chÊt ch nghĩa Mác.
Có một thực tế là, trong giáo dục lý luận chính trị phổ thông và tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, thời gian qua, chúng ta chưa có điều kiện làm rõ nguồn gốc hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác mà chỉ tập trung làm rõ hệ thống quan điểm của Người. Điều đó đã đem lại những nhận thức khác nhau, nhất là khi mọi người “tiếp cận” những thông tin sai lệch, thậm chí xuyên tạc chủ nghĩa Mác. Người ta “nửa tin nửa ngờ” về tính chân lý của học thuyết Mác; do đó đã có hàng loạt câu hỏi đặt ra: Tại sao chủ nghĩa Mác là học thuyết khoa học, cách mạng, được các Đảng Cộng sản coi là nền tảng tư tưởng mà chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu lại sụp đổ? Tại sao các nước theo chủ nghĩa Mác - Lênin lại là những nước nghèo đói, còn chủ nghĩa tư bản lại giàu có? Có phải C.Mác và V.I.Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng?
Những câu hỏi tương tự nêu trên đều có vấn đề của nó. Một mặt, chúng ta trang bị hệ thống quan điểm lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin cho nhân dân chưa đủ độ để họ có thể tự giải đáp mọi vấn đề mà thực tiễn đặt ra và đủ sức chống lại các quan điểm sai trái. Mặt khác, nhân dân không hiểu nguồn gốc hình thành và phát triển của các quan điểm ấy, chỉ nắm “phần ngọn” nên rất dễ lầm lẫn. Nếu họ hiểu rõ các điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận, khoa học tự nhiên của sự ra đời chủ nghĩa Mác, cũng như quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác, họ sẽ vững tin hơn khi xem xét và bác bỏ các quan điểm sai trái. Hiện nay, rất ít người hiểu rõ vai trò và ý nghĩa của cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên hiện đại đối với sự hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác, nhất là ba phát minh vạch thời đại: học thuyết tế bào của Svan, Slâyđen; Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của Maiơ, Lorensơ; Học thuyết tiến hoá của Đacuyn.
Kẻ thù của chúng ta rất rõ điều này, chúng đã khoét sâu các điểm yếu đó, gieo rắc sự hoài nghi về chủ nghĩa Mác thông qua việc “đánh lộn sòng” học thuyết khoa học, cách mạng với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo. Ai cũng biết rằng, giữa lý luận và thực tiễn còn có khoảng cách, trong khi đó bản thân lý luận chưa được làm rõ, chưa có nhận thức đầy đủ thì vấn đề này và vấn đề kia còn có khoảng cách là đương nhiên. Có một thực tế là cả người đi tuyên truyền lẫn người được tuyên truyền và vận dụng lý luận khoa học chưa được chuẩn bị kỹ về mặt lý luận thì trong thực tiễn, sự áp dụng, vận dụng lý luận khoa học tất yếu sẽ gặp phải vướng mắc. Chưa hiểu rõ cội nguồn gốc rễ của sự ra đời, phát triển chủ nghĩa Mác, chưa hiÓu sâu sắc lịch sử ra đời chủ nghĩa Mác thì niềm tin vào chủ nghĩa Mác chưa trọn vẹn và đầy đủ. Do đó, bản lĩnh của người cách mạng dễ bị “bẻ cong” trước những “ngón đòn tấn công hiểm độc” của kẻ thù.
Tung ra các luận điệu: “Chủ nghĩa Mác là một học thuyết đóng kín “siêu hình, duy tâm”..., những người có quan điểm đối lập đã cố tình bóp méo sự thật, xuyên tạc quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác, vu khống “sự sai lầm của chủ nghĩa Mác”. Việc làm này diễn ra ở thời hiện tại, song vÒ thùc chÊt vẫn như một trăm năm trước đây các bậc thầy của họ đã từng làm.
Vượt qua mọi “làn sóng” chèng ph¸, chủ nghĩa Mác với những giá trị chân thực: khoa học và cách mạng, vẫn tỏ rõ sức sống trường tồn và bất diệt. Trước đây, các thầy “phù thuỷ” cao tay đã không thể hạ gục chủ nghĩa Mác, thì nay hậu duệ của họ, dù lắm mưu, nhiều kế cũng không thể làm gì hơn thế. Sức sống của chủ nghĩa Mác được nuôi dưỡng bằng tinh hoa trí tuệ nhân loại và thực tiễn cách mạng. Nhờ đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã “lột xác”, chuyển lập trường, từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản. Quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và chủ nghĩa cộng sản đã ra đời từ mảnh đất hiện thực. Các tác phẩm trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa Mác đã thể hiện rất rõ vấn đề này. Mỗi sự kiện như một nấc thang kế tiếp, nuôi dưỡng tư duy lý luận của Mác và chính nó đã giúp ông sáng lập ra chủ nghĩa Mác. Sau cách mạng tư sản Tháng Hai năm 1848, cũng như sau Công xã Pari năm 1871... , C.Mác và Ph.Ăngghen đều tiến hành tổng kết lịch sử, khái quát những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cách mạng, bổ sung, hoàn thiện chủ nghĩa Mác.
Lịch sử triết học và lịch sử khoa học hiện đại ghi rõ từng sự kiện, cả nhân loại đều có chung nhận thức như thế; cớ sao lại có người cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, lừa dối lương tâm, phản bội chính mình, lừa gạt mọi người. Hiểu cho đúng sự thật, tôn trọng sự thật thì phải thừa nhận rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, điều kiện, lực lượng và phương pháp giải phóng triệt để xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, bất công, tha hoá, đói nghèo dưới mọi hình thức. Chủ nghĩa Mác chỉ ra những quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan, sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; đưa giai cấp công nhân và những người dân lao động từ nô lệ, lầm than lên địa vị làm chủ xã hội.
Với việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, chủ nghĩa Mác đã đem lại niềm tin vào thắng lợi cuối cùng cho giai cấp vô sản. Đó cũng là điều giải thích rõ tại sao Hồ Chí Minh lại đi tìm chủ nghĩa Mác - Lênin, tại sao Đảng ta khẳng định: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam và tại sao kẻ thù của chúng ta lại quyết liệt tấn công nhằm thủ tiêu chủ nghĩa Mác - Lênin.
Có thể nói gì về những người cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin? Nói rằng, đó là những kẻ lừa dối lương tâm, cản trở tiến bộ xã hội, phản bội loài người.



1 V.I.Lênin, toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1977, tập 23, tr. 49-50.