Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014

CHÚNG TA LUÔN LUÔN ĐÚNG KHI THỰC HIỆN TỐT DI HUẤN CỦA V.I. LÊNIN VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG MÁCXÍT KIỂU MỚI



 Kế thừa những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về xây dựng một chính đảng độc lập của giai cấp vô sản, V.I.Lênin với tư cách là ‘‘một nhà cách mạng chuyên nghiệp’’, lãnh tụ của phong trào công nhân Nga, đã kiên trì thực hiện cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm bác bỏ những quan điểm sai trái, phản động với mưu đồ cố tình xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phá hoại phong trào công nhân; qua đó, bổ sung, phát triển sáng tạo những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới; nâng tầm cao các quan điểm, tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen thành học thuyết khoa học, cách mạng về xây dựng đảng mácxít kiểu mới của giai cấp công nhân. Và chính Người đã trực tiếp tổ chức, thành lập, lãnh đạo Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga - một chính đảng vô sản kiểu mới - tiền thân của Đảng Cộng sản Liên Xô sau này. Đây là "một đảng kiểu mới, thật sự cách mạng và thật sự cộng sản", khác với tất cả các đảng kiểu cũ ở châu Âu của những người theo "chủ nghĩa xã hội chân chính" hay theo đuôi "chủ nghĩa cải lương đại nghị"...
Theo V.I.Lênin, tính tất yếu khách quan phải xây dựng và củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của đảng mácxít kiểu mới của giai cấp công nhân là điều kiện cơ bản hàng đầu, mang ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp đấu tranh cách mạng, thực hiện khát vọng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Khác với tất cả các tổ chức đảng chính trị đương thời - những tổ chức không có hình thù rõ rệt, kiểu như một câu lạc bộ, một thực thể lỏng lẻo, không có trật tự, kỷ cương, kỷ luật; hoạt động không có nguyên tắc, không có quan hệ ràng buộc về mặt tổ chức, xa rời quần chúng nhân dân và quản lý đảng viên theo kiểu "thỏa hiệp", "bè phái" - Đảng Cộng sản mácxít kiểu mới phải là đội tiên phong chính trị chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân; đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của mình.
Đảng Cộng sản là lương tâm, trí tuệ và là niềm vinh dự, tự hào của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. V.I.Lênin cho rằng, chính Đảng Cộng sản (chứ không phải là đảng chính trị của các lực lượng nào khác) có ý thức trách nhiệm rõ ràng về việc đưa lý luận khoa học, cách mạng vào phong trào công nhân, trực tiếp lãnh đạo, định hướng chính trị và tổ chức giáo dục, động viên giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân hành động cách mạng, nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là đấu tranh vứt bỏ mọi gông xiềng, xích sắt, xoá bỏ mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công; giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, ..., xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa: hòa bình, ấm no, tự do, hanh phúc !
Do đó, mỗi đảng viên cộng sản cũng như toàn bộ Đảng Cộng sản, từ trung ương đến cơ sở phải ý thức rõ ràng về vị trí, vai trò, nhiệm vụ chính trị  và sự tiên phong, gương mẫu của mình trước giai cấp và không được lẫn lộn Đảng với toàn bộ giai cấp hoặc đồng nhất Đảng Cộng sản là giai cấp công nhân. V.I.Lênin nhấn mạnh: " Không được lẫn lộn đảng, tức là đội tiền phong của giai cấp công nhân với toàn bộ giai cấp"[1].
 Người vạch rõ: "Chỉ có Đảng Cộng sản, nếu nó thực sự là đội tiền phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp đó, nếu nó gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn toàn có ý thức và trung thành, có học vấn và được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng bền bỉ, nếu nó biết gắn liền với toàn bộ cuộc sống của giai cấp mình và thông qua giai cấp đó, gắn liền với tất cả quần chúng bị bóc lột và biết làm cho giai cấp và quần chúng đó tin tưởng hoàn toàn vào mình - chỉ có một đảng như vậy mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cuối cùng, kiên quyết nhất, thẳng tay nhất chống lại tất cả mọi thế lực của giai cấp tư sản"[2].
Trong quan điểm lý luận cũng như trong chỉ đạo thực tiễn cách mạng, V.I.Lênin đều khẳng định rằng, một Đảng Cộng sản thực sự cách mạng sẽ trở thành nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, nếu như những đảng viên của đảng đó thấm nhuần sâu sắc và giác ngộ mục tiêu, lý tưởng cách mạng, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, tự nguyện suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng vì sự giải phóng con người thoát khỏi sự ‘‘tha hóa’’, bất công, đói nghèo, đem lại hạnh phúc cho giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Muốn vậy, trong Đảng phải có sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ. Chính sự thống nhất này đã, đang và sẽ luôn đặt ra như ‘‘là sự sống còn - một mệnh lệnh tối cao của cuộc sống’’, đòi hỏi Đảng Cộng sản phải có nguyên tắc tổ chức khoa học và cách mạng, phải dựa trên "một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong"[3]. Có như vậy, Đảng mới thực sự trong sạch vững mạnh, có uy tín và sức chiến đấu cao. Đó là điều kiện chắc chắn nhất để Đảng Cộng sản xứng tầm là đội tiền phong gương mẫu của giai cấp công nhân, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của mình.
Bám sát thực tiễn đấu tranh cách mạng của phong trào công nhân và dựa vào nguyên tắc tập trung dân chủ C.Mác, Ph.Ăngghen đề ra, V.I.Lênin đã phát triển toàn diện nguyên tắc đó và khẳng định rằng, tập trung dân chủ không chỉ là nguyên tắc tổ chức xây dựng đảng mácxít kiểu mới mà còn là nguyên tắc mang tính khoa học trong quản lý nhà nước, tổ chức cộng đồng, chỉ đạo các hoạt động cách mạng có văn hoá. Thực chất của nguyên tắc này là kết hợp hữu cơ giữa chế độ tập trung với chế độ dân chủ triệt để vốn có của giai cấp công nhân, bắt nguồn từ những đòi hỏi của nền sản xuất đại công nghiệp với trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại. Từ trong bản chất, nguyên tắc tập trung dân chủ loại bỏ hoàn toàn khuynh hướng vô chính phủ, sự thiếu thống nhất về lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức, bộ phận, cá nhân phá hoại sự thống nhất ấy, đồng thời cũng loại bỏ khuynh hướng độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, cục bộ, bản vị mà một số lãnh tụ của các đảng chính trị khác thường mắc phải.
Theo V.I.Lênin, nguyên tắc tập trung dân chủ hoàn toàn không phải là sự tự phát, những biểu hiện ngẫu hứng, cứng nhắc, đơn độc của một cá nhân hay một nhóm người đầy thiên kiến, hẹp hòi, mà là cả một quá trình và kết quả của lao động trí tuệ, một sự gạn lọc tinh chất nhất, một sự sáng tạo triệt để nhất để dân chủ trở thành sức sống, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển, cải tạo thực tiễn. V.I.Lênin khẳng định, nếu không có chế độ tập trung dân chủ thì Đảng Cộng sản không thể là đội tiền phong chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và Đảng không thể tránh khỏi bị chia rẽ, tản mạn, mang tính cục bộ; thoái hóa về tư tưởng chính trị, suy đồi về đạo đức cách mạng và lối sống văn hóa. Người còn chỉ rõ: ai đó tự thừa nhận mình là đảng viên của Đảng Cộng sản mà lại phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ, nghĩa là phủ nhận tính tổ chức và kỷ luật của Đảng thì người ấy đã rơi vào chủ nghĩa cơ hội, xét lại và đang biến Đảng Cộng sản thành" câu lạc bộ tranh luận"; và chính nó là biểu hiện rõ ràng nhất về sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống.
Rõ ràng là, nếu phá vỡ nguyên tắc tập trung dân chủ thì coi như tính chất và bản chất của Đảng Cộng sản đã bị tổn hại và Đảng đứng trước nguy cơ tan rã, không thể trở thành đội tiền phong gương mẫu - bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, và đương nhiên, Đảng không có khả năng vạch ra một cương lĩnh hành động triệt để, khoa học, cách mạng; không có sức mạnh toát lên từ sự nêu gương sáng, làm mẫu, giáo dục, thuyết phục quần chúng nhân dân học tập, noi theo, làm theo bằng trí tuệ, trái tim và bằng cả xương máu của mình để thực hiện thắng lợi cương lĩnh đã đề ra và do đó, Đảng không đủ uy tín để lãnh đạo cách mạng; không được nhân dân suy tôn là người lãnh đạo, người “đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; và quần chúng nhân dân sẽ không đứng về phía Đảng, dành cho Đảng sự đồng tình, ủng hộ trong đấu tranh cách mạng; thậm chí sẽ nghi ngờ mục tiêu, lý tưởng của Đảng là đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công để tự giải phóng mình; sẽ mất phương hướng và chìm đắm trong mê muội, an phận bởi cuộc sống đau khổ, tối tăm của thân phận làm người dân nô lệ.
Rơi vào hoàn cảnh ấy, V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, không ít người sẽ nhận thấy họ bị lừa dối, bị phản bội vì đã nhầm lẫn khi trao gửi niềm tin cho Đảng, đã đi theo Đảng; tức là họ đã sai lầm khi đứng về phía Đảng, một lòng một dạ đi theo Đảng, kiên quyết đấu tranh lật đổ chế độ người p bức, bóc lột người và quá tin vào tương lai, tiền đồ của cách mạng và lời hứa của Đảng về xây dựng cuộc sống mới hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc. Đó là một tổn thất lớn của Đảng và nó không thể cứu vãn khi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng “lây nhiễm” từ một bộ phận quần chúng vào trong nội bộ Đảng, biến Đảng thành “bộ phận theo đuôi quần chúng”. Chính vì vậy, V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, một trong những vấn đề then chốt về xây dựng đảng mác xít kiểu mới của giai cấp công nhân là xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh; là đặc biệt quan tâm xây dựng, củng cố mối liên hệ “máu thịt” giữa Đảng và nhân dân. Người chỉ rõ: “chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân” (V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tập 35, tr. 64). Trong đó, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là điều kiện cơ bản hàng đầu để tạo ra sự đoàn kết, thống nhất cao trong toàn Đảng. V.I.Lênin coi sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng là cội nguồn của sức mạnh để chiến thắng mọi kẻ thù. Do đó, theo Người, Đảng phải đặc biệt coi trọng và thường xuyên, nghiêm túc thực hiện tốt công tác phê bình và tự phê bình trong Đảng, vì đây là biện pháp “khó khăn, phức tạp nhất nhưng hữu dụng nhất và chính nó là “phép màu” để nâng cao uy tín, phát huy vai trò và tăng cường sức mạnh chiến đấu của Đảng, cũng như củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng. V.I.Lênin khẳng định, công tác phê bình và tự phê bình trong Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng" và "hết sức cần thiết" để nâng tầm cao trí tuệ, để phát hiện và giải quyết mâu thuẫn kịp thời, làm cho nội bộ Đảng trong sạch vững mạnh, thật sự đoàn kết, thống nhất. Người viết: "Thái độ của một chính đảng trước những sai lầm của mình là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất và chắc chắn nhất để xem xét đảng ấy có nghiêm túc không... Công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy - đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc..."[4].
Đoàn kết, thống nhất là cội nguồn sức mạnh của Đảng Cộng sản, V.I.Lênin chỉ ra rằng: "Nếu không có cái cơ sở tư tưởng chung thì không thể có vấn đề thống nhất"[5]. Vậy là, cơ sở tư tưởng chung của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, theo V.I.Lênin, phải dựa vào sự thống nhất của cương lĩnh, đường lối, cả trong tư tưởng, tổ chức và hành động, tức là lý luận phải gắn chặt với thực tiễn, lời nói phải gắn chặt với việc làm; đảng viên Đảng Cộng sản phải luôn đề cao sự nêu gương, làm mẫu trước quần chúng nhân dân để họ nhìn vào đó học tập, noi theo, làm theo.
V.I.Lênin chỉ ra và cảnh báo về những “căn bệnh” đã và đang trở thành nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, làm phá sản thành quả cách mạng. Đó là “căn bệnh” chủ quan duy ý chí, cơ hội, hối lộ, tham nhũng, quan liêu, xa dân, v.v.. Vì vậy, Người yêu cầu Đảng của giai cấp công nhân phải "tẩy sạch" khỏi đảng những phần tử tha hóa, biến chất, những người “đội lốt, mang danh đảng viên Đảng Cộng sản” để tuyên truyền quan điểm chống Đảng, phá Đảng". Bởi vì, nếu trong Đảng mà có những người cơ hội hoặc công khai, hoặc "ngấm ngầm" thì sớm hay muộn, Đảng sẽ "không thể tránh khỏi tan rã, trước tiên tan rã về tư tưởng, sau sẽ tan rã về tổ chức". Cho nên, để Đảng không bị chia rẽ thành bè phái hoặc hình thành các phe nhóm, nhất thiết Đảng phải thường xuyên thực hiện phê bình và tự phê bình, thường xuyên củng cố sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, giữ cho Đảng thật sự trong sạch vững mạnh và mỗi đảng viên của Đảng phải thật sự gương mẫu về đạo đức, lối sống; thực hiện tốt những điều quy định đảng viên không được làm; lấy lời căn dặn của Bác Hồ trong Di Chúc làm phương châm hành động cách mạng: cán bộ, đảng viên phải giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng như ‘‘giữ gìn con ngươi của mắt mình’’.
 Bên cạnh việc nhắc nhở phải đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách đảng viên Đảng Cộng sản và coi đó công việc nhất thiết phải làm, thì đồng thời, V.I.Lênin luôn đề cao vai trò của công tác giáo dục, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, lấy việc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi cán bộ, đảng viên làm nòng cốt; giúp họ tự ý thức sâu sắc về việc nâng cao danh hiệu người đảng viên cộng sản trước nhân dân. Nhiệm vụ này không chỉ có ý nghĩa quyết định việc củng cố, tăng cường và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng mà còn đặc biệt hệ trọng đối với việc củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng cũng như việc nâng tầm cao uy tín, vị thế của mỗi đảng viên trước nhân dân, nhất là những người giữ chức vụ cao trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp. Đấy là điều kiện tốt nhất để Đảng gần dân, sống trong lòng nhân dân, phát huy vai trò của họ trong việc phát hiện, xem xét, nhận diện cái tốt, cái xấu để bảo vệ Đảng; đóng góp ý kiến, đề xuất biện pháp giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên khi họ mắc sai lầm, khuyết điểm cũng như giới thiệu cho Đảng những quần chúng ưu tú để Đảng bồi dưỡng và kết nạp họ vào đội ngũ của mình. Đâymột công việc quan trọng và rất cần thiết. Nhờ đó mà Đảng Cộng sản ngày càng vững mạnh và có như vậy, Đảng mới làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình. V.I.Lênin nhấn mạnh: Một trong những điều tối kỵ nhất là Đảng tuyệt đối không được để những phần tử cơ hội, "những phần tử xấu, những cặn bã của chủ nghĩa tư bản cũ len lỏi vào trong đảng chân chính"[6].
V.I.Lênin cho rằng, việc thoái hoá, biến chất về đạo đức và sai lầm về đường lối chính trị của người đảng viên là rất nghiêm trọng, nhất là “người giữ chức trọng quyền cao”; phải coi đó là sự tổn thất to lớn của Đảng, nhưng nghiêm trọng hơn, tổn thất nặng nề hơn không chỉ cho Đảng mà cho cả giai cấp công nhân và nhân dân lao động là sự sai lầm về đường lối chính trị của Đảng Cộng sản cầm quyền. Bởi vì, toàn bộ sự nghiệp của Đảng, trước hết phụ thuộc vào sự đúng đắn của đường lối chính trị do Đảng khởi thảo và lãnh đạo. Do đó, nhiều lần V.I.Lênin nhắc nhở rằng, Đảng phải hết sức cảnh giác, đề phòng nguy cơ "chệch hướng", sai lầm về đường lối chính trị và nguy cơ trong nội bộ Đảng có cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất, tham nhũng, quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân, “nói một đằng, làm một nẻo”... Phải khẳng định rõ ràng rằng, đó không chỉ là sự nguy hiểm mà là cực kỳ nguy hiểm, nếu Đảng của nó lại cầm quyền ở một nước mà giai cấp công nhân chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân cư. Cho nên, bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, trong công tác xây dựng Đảng, phải đặc biệt chú trọng quan tâm làm tốt công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng, nhất là đội ngũ những người giữ chức vụ chủ chốt, phải rà xét thật sự nghiêm túc về phẩm chất và năng lực, cũng như giao cho họ những công việc thật sự khó khăn để rèn luyện, thử thách và kiểm chứng sự gắn bó của họ với quần chúng nhân dân, sự tuyệt đối trung thành của họ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Mặt khác, V.I.Lênin luôn đề nghị phải “trí tuệ hóa” Đảng, nhất là trí tuệ hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân - những người mới bước ra từ cuộc chiến tranh, chưa có nhiều kinh nghiệm về tổ chức, quản lý công tác xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Bởi lẽ, có được cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn là một trong những phương sách tốt để nâng cao vai trò và uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhưng nếu trong Đảng chỉ có nhiều người nhiệt tình cách mạng mà thiếu tri thức khoa học, văn hóa thấp thì đó là một nguy cơ làm suy yếu Đảng. Nói cách khác, Đảng thiếu đội ngũ cán bộ tốt thì sự nghiệp cách mạng sẽ gặp vô vàn khó khăn, thậm chí sẽ không thể thành công. Do vậy, trong công tác cán bộ, nhất là việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ chủ chốt phải nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh chính trị thật sự kiên định vững vàng, có tri thức khoa học, kỹ thuật...; tức là có đủ đức, có đủ tài để giao những trọng trách đặc biệt quan trọng mà Đảng và nhân dân tin cậy, phó thác.
Nghiên cứu, quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay; suy ngẫm về những điều V.I.Lênin căn dặn về xây dựng đảng mác xít kiểu mới của giai cấp công nhân, thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo những di huấn của V.I.Lênin về xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch vững mạnh. Đó là những bài học kinh nghiệm quý báu đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Qua đó, chúng ta sẽ nhận thức sâu sắc hơn giá trị và ý nghĩa sâu sắc của những luận điểm của V.I.Lênin đối với cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng ta hiện nay, nhất là cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, luôn luôn xứng đáng là một đảng “đạo đức”, một đảng “văn minh”; là nhân tố lãnh đạo đóng vai trò quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.


[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr. 289.
[2] Sách đã dẫn, tập 41, 1977, tr.227.
[3] Sách đã dẫn, tập 6, 1978, tr.32.
[4] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.51.
[5] Sách đã dẫn, tập 5, 1978, tr.336.
[6] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.256

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG TRƯỚC YÊU CẦU NHIỆM VỤ MỚI



Hơn 80 năm qua, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đưa nước ta vững bước đi len chủ nghĩa xã hội.
    Trước sự biến động dữ dội của tình hình chính trị thế giới và xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, Đảng ta vẫn kiên trì mục tiêu và con đường đã lựa chọn, tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tiến hành mạnh mẽ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phấn đấu để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
    Thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua, đã khẳng định vai trò cầm quyền của Đảng ta; sự đúng đắn của đường lối cách mạng do Đảng vạch ra; sự trưởng thành về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Là Đảng cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng ta là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng, là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nước ta trước đây cũng như hiện nay.
     Trong bối cảnh, tình hình mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là tất yếu khách quan và là một nguyên tắc không thể thay đổi. Bởi lẽ, với tư cách là một Đảng cầm quyền, Đảng ta phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về vận mệnh phát triển của dân tộc, sự phát triển và sự phồn vinh của đất nước, về độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Cho nên năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là những điều kiện đủ để Đảng thực hiện sự cầm quyền của mình, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, và nó đã được nhân dân Việt Nam thừa nhận, suy tôn, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất của mình; nhân dân yêu mến, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đàng và gọi tên Đảng với sự trìu mến, gần gữi, thân thương là Đảng ta.
     Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được củng cố, tăng cường và phát triển. Thực tế cách mạng ở nước ta đã chứng minh, hoàn thành nhiệm vụ lật đổ chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đã là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp; song nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa cộng sản còn khó khăn, phức tạp gấp nhiều lần. Các giai đoạn đều cần đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
    Là Đảng cầm quyền, Đảng ta có hệ thống chính trị vững chắc từ trung ương đến cơ sở; trong đó, Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là công cụ mạnh mẽ và sắc bén. Thông qua Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, Đảng ta tập hợp nhân dân thành khối đoàn kết toàn dân, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
    Năng lực lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh giành chính quyền, trong kháng chiến chống quân xâm lược, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta đã được khẳng định, không ai có thể bác bỏ được. Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng vẫn tiếp tục được khẳng định và tăng cường.
    Sở dĩ Đảng ta thực hiện tốt vai trò của một Đảng cầm quyền là nhờ Đảng ta có đường lối, chủ trương đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; cán bộ, đảng viên của Đảng không ngại gian khổ, hy sinh vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Khác với các đảng phái khác, Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của quốc gia, giai cấp, dân tộc và nhân dân.
     Trước đây cũng như hiện nay, nếu không nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng thì nguy cơ sai lầm về đường lối có thể xảy ra; cán bộ, đảng viên quan liêu, xa nhân dân hơn; nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Thực tiễn cách mạng nước ta đã khẳng định rằng, để lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi, trước tiên Đảng Cộng sản Việt Nam phải đề ra đường lối đúng đắn; đường lối ấy phải được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân…Có như vậy, đường lối ấy mới đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình ủng hộ, tích cực thực hiện và đường lối ấy sẽ trở thành hiện thực. Nếu xem nhẹ hoặc xa rời những điều nêu trên thì đường lối của Đảng đưa ra sẽ không sát thực, không đúng đắn, gây nên hậu quả khó lường. Chính vì vậy, Đảng cầm quyền không được phép sai lầm về đường lối, dù chỉ một lần.
   Trong bối cảnh tình hình hiện nay, nếu không chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng thì dễ mắc các bệnh chủ quan, duy ý chí, quan liêu, xa rời thực tế, thiếu dân chủ, xa dân… Đây là điều cực kỳ nguy hiểm và là một nguy cơ rất lớn đối với Đảng ta. Là một Đảng cầm quyền, phần lớn đảng viên của Đảng là những cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các ngành, các lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở. Trong quá trình xây dựng, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu không chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng thì một bộ phận cán bộ có chức có quyền dễ mắc “bệnh” quan lưu, lộng quyền, lạm quyền, độc đoán, xa dân, thậm chí coi thường dân, xa thực tế; đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Bởi lẽ, quan liêu, cửa quyền, xa thực tế, xa quần chúng là nguy cơ của một Đảng cầm quyền, là nguồn gốc của các thói hư, tật xấu và những hư hỏng. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh, hiện nay: “Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội”.
     Trước tác động của các nguy cơ: tụt hậu xa hơn về kinh tế; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng (khoá VII) đã chỉ rõ, đòi hỏi Đảng ta phải tuyệt đối trung thành, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa, có trình độ trí tuệ và sự nhạy bén chính trị cao để lãnh đạo nhân dân ta vượt qua những nguy cơ, thách thức. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
      Hiện nay, trên thế giới, hoà bình, hợp tác và phát triển đang là xu thế lớn; song vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường: chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, xung đột vũ trang, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, lãnh hải và các tài nguyên thiên  nhiên… tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi với mức độ ngày càng tăng và tính chất ngày càng phức tạp.
Đối với nước ta, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ; tăng cường chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. Đáng chú ý là ở một số địa phương, ngoài sự ổn định và phát triển nhanh chóng, bền vững về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh; đó đây, đơn vị này đơn vị khác còn xảy ra một số hiện tượng tiêu cực như vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật nhà nước; chất lượng hoàn thành nhiệm vụ chưa cao, v.v..
 Trước sự biến đổi phức tạp của tình hình thế giới và yêu cầu nhiệm vụ mới hiện nay ở nước ta và lực lượng vũ trang, vấn đề nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nói chung, của Đảng bộ Quân đội nói riêng là tất yếu khách quan, không có sự lựa chọn nào khác. Mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội hãy nỗ lực phấn đấu vươn lên, ra sức xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, giữ vững bản lĩnh chính trị, tận dụng tốt thời cơ, quyết tâm vượt qua mọi nguy cơ, thách thức; lãnh đạo cơ quan, đơn vị khắc phục triệt để những hạn chế, khuyết điểm; phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị năm 2013, chuẩn bị tốt mọi điều kiện để vững tin bước vào năm 2014; sát cánh kề vai cùng đảng bộ, chính quyền và nhân dân các địa phương xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; làm cho cuộc sống của nhân dân 6 tỉnh trên địa bàn Quân khu bình yên, ấm no, hạnh phúc; góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

HỌC TẬP BÁC HỒ VỀ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH ĐỂ “SỬA MÌNH, HIỂU NGƯỜI”, GIỮ VỮNG NỀN NẾP, KỶ CƯƠNG, CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG



Bác Hồ đặc biệt coi trọng tự phê bình và phê bình. Tư tưởng của Bác về tự phê bình và phê bình là một trong những nội dụng cơ bản, có đóng góp quan trọng trong bảo vệ và phát triển lý luận Mác - Lênin; là nét đặc sắc trong tư tưởng của Người về xây dựng Đảng mácxít - lêninnít, là vũ khí lý luận sắc bén để đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các tiêu cực xã hội.
Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” viết năm 1927, lần đầu tiên, Bác Hồ nói về tư cách người cách mạng với vấn đề tự phê bình và phê bình, hàm chứa những nội dung giáo dục và định hướng cách mạng sâu sắc. Bác luôn là người mẫu mực về tự phê bình và phê bình, coi tự phê bình và phê bình là động lực nội sinh thúc đẩy sự phát triển của mỗi người, mỗi tổ chức. Bác yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, không kể chức vụ, cấp bậc; không phân biệt người tuổi cao hay còn trẻ tuổi, đều phải tự nhận thức, tự đánh giá, hiểu đúng mạnh yếu của bản thân mình, từ đó mà “cả quyết sửa lỗi của mình…có lòng bày vẽ cho người…hay xem xét người”1.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác quan niệm: “Phê bình là nêu yêu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu yêu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn nhau và giúp nhau sửa chữa khuyết điểm”1. Với cách diễn đạt giản dị, ngắn gọn và súc tích, Bác đã đưa ra khái niệm: tự phê bình và phê bình một cách rõ ràng, chính xác cả về mục đích, tính chất và nội dung. Theo Bác, tự phê bình phải đi đôi với phê bình. Hai mặt này phải kết hợp chặt chẽ, thống nhất với nhau, không thể tách rời nhau; không nên thiên vị, khuyếch đại một mặt nào. Trong mối quan hệ biện chứng này, tự phê bình được coi là tiền đề, là cơ sở cho phê bình. Người nói: “trước ta nói phê bình và tự phê bình, bây giờ phải nói tự phê bình và phê bình. Nói như thế là chú trọng phê bình mình trước, phê bình người sau”2.
Bác căn dặn: “Nói cái xấu phải nói cả cái tốt. Nếu chỉ chuyên nói cái xấu là lệch”3. Do vậy, xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng, nhất là đánh giá con người phải đặc biệt thận trọng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là để tổ chức đảng trong sạch vững mạnh hơn, mỗi người tốt hơn. Vì vậy, “lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”; sao cho sau khi được phê bình, tình đồng chí đồng đội tốt hơn, đoàn kết chặt chẽ hơn. Cho nên tự phê bình và phê bình đúng mực, chỉ ra được mặt ưu điểm và cả mặt khuyết điểm, các mặt ấy “có lý có tình”, phù hợp với thực tiễn cuộc sống và tâm lý con người; làm cho người ta “tâm phục khẩu phục”, thấy ưu điểm là đúng, vui vẻ hơn, phán chấn hơn, làm việc tốt hơn; đồng thời, thấy khuyết điểm cũng là đúng nên cũng vui vẻ, thoải mái nghe, tiếp thu, sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ. Không nên “yêu thì nói tốt ghét thì nói xấu”, “bằng mặt nhưng không bằng lòng”; không nên tô hồng, bôi đen hiện thực khách quan, nói sai, phản ánh sai lệch sự thật. Bác dạy rằng, tự phê bình và phê bình là nhằm phát huy mặt tốt, khắc phục mặt xấu, giúp cho suy nghĩ, nhận thức, hành động đúng hơn, phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp cách mạng. Không nên dùng tự phê bình và phê bình để phê phán, chỉ trích, miệt thị nhau; làm cho người ta “mất mặt”, làm nhục tinh thần, thể xác con người theo nghĩa “vùi dập nhau”, “triệt hạ nhau”; bất luận vì lý do gì thì đều không nên “giận cá chém thớt”. Theo Bác, khi tự phê bình và phê bình “phải vạch cả ưu điểm và khuyết điểm…phê bình việc làm chứ không phải phê bình người” ”4. Trong mọi lúc, cái tâm của người phê bình phải sáng, cái đức phải cao; tự phê bình và phê bình sẽ kém hiệu quả nếu thiếu cái tâm, cái đức hoặc cái tâm, cái đức không trong, không sáng; lờ mờ.
Trong hoạt động thực tiễn, dưới bất cứ hình thức nào, công việc nào cũng đều có mâu thuẫn. Phương pháp giải quyết mâu thuẫn đạt hiệu quả cao nhất, theo Bác, là tự phê bình và phê bình; bởi vì, đã là người cộng sản, dứt khoát không được che đậy, giấu giếm khuyết điểm mà cần công khai phê bình khuyết điểm ấy. Bác viết: “luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình thì khuyết điểm hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”1. Bác cho rằng, “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”2.
 Rõ ràng, đối với Đảng, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, tự phê bình và phê bình là “liều thuốc quý”, có tác dụng chữa và cắt được bệnh, đồng thời, bồi bổ, làm người ta phấn chấn, tăng thêm sức khỏe” để phục vụ cách mạng, phụng sự nhân dân. Vì lẽ đó, tự phê bình và phê bình cần cho tất cả mọi người ví như họ cần không khí để thở, nước để uống, để rửa mặt, làm vệ sinh hàng ngày. Bản chất tự phê bình và phê bình là giải quyết mâu thuẫn nội bộ Đảng, củng cố mối quan hệ đoàn kết, thống nhất trong nhân dân, làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng, đưa nó đi đến bến bờ thành công. Tự phê bình và phê bình đã được ghi thành chế độ, quy định chặt chẽ trong Điều lệ Đảng, đảm bảo tính pháp lý để mọi tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên, bất kể là ai, đều phải chấp hành tự phê bình và phê bình nghiêm túc.
Rõ ràng, quan niệm của Bác về tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại, phát triển, là nguyên tắc và là chế độ sinh hoạt Đảng hoàn toàn không có gì mâu thuẫn mà thống nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Theo Bác, tự phê bình và phê bình còn là một trong những tiêu chí quan trọng để phân biệt Đảng Cộng sản với các đảng cơ hội, xét lại, cải lương. Xa rời tự phê bình và phê bình là xa rời bản chất Đảng, là nguy cơ gây ra tình trạng trì trệ, bảo thủ, là chỗ dựa vững chắc của sự tồn tại những khuyết điểm, sai lầm, yếu kém, của sự chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng, tạo kẻ hở để những kẻ xu nịnh, thoái hoá, biến chất tồn tại; bọn cơ hội, xét lại chui vào Đảng, thậm chí, thao túng, lũng đoạn, làm cho Đảng biến chất, thoái hoá, mất sức chiến đấu. Vì vậy, tự phê bình và phê bình vừa là hành động cách mạng vừa là một nghệ thuật vừa mang tính khoa học cao. Việc phê bình, xem xét, đánh giá, chỉ rõ đúng sai nhất thiết phải bảo đảm tính trung thực, khách quan và công khai; phải phân tích kỹ lưỡng điều kiện, hoàn cảnh, nguyên nhân khách quan, chủ quan tạo nên ưu điểm, dẫn đến khuyết điểm; tức là “nói có sách, mách có chứng”; có như vậy, ý kiến đống góp, phê bình mới chính xác, có sức thuyết phục cao.
Vì thế, Bác luôn coi trọng và đề cao tính dân chủ, công khai trong sinh hoạt Đảng, tự phê bình và phê bình. Bác cho rằng, “Phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng. Trái lại, còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm”1; còn nếu như sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị khi thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình là một chứng bệnh cần khắc phục. Vì vậy, Bác luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên “phải nâng cao giác ngộ tư tưởng, ngăn ngừa tự đại, tự cao, mạnh dạn công khai tự phê bình, vui vẻ tiếp thu lời phê bình của người khác”2.
Vì vậy, Bác thường dạy rằng, cán bộ, đảng viên, nhất là người chủ trì đơn vị, chủ trì hội nghị phải “khéo” sử dụng “vũ khí” tự phê bình và phê bình. Theo Bác, “khéo” sử dụng “vũ khí” tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng có nghĩa là biết dùng nghệ thuật để quan hệ, ứng xử sao cho thấu lý, đạt tình, công việc chung, riêng đều tốt, đạt hiệu quả. Thiết nghĩ, học tập Bác Hồ về tự phê bình và phê bình để “sửa mình, hiểu người” là việc rất cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay; có như vậy mới giữ vững kỷ cương, nền nếp, chế độ quy định, kỷ luật quân đội, pháp luật nhà nước; nhờ đó, mỗi cán bộ, đảng viên và đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.


1 HCM, Đường Kách mệnh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.260
1, 4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996, tr.267, 229-306.
2 ,3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr.206, 322.
1, 2  Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996, tr.265, 261.
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996, tr.284.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996, tr.575.

KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM - TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚNG TA



Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận cấu thành lãnh thổ và là chủ quyền thiêng liêng của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9 tháng 2 năm 2007 “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, Đảng ta khẳng định mục tiêu và quyết tâm phấn đấu để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển; bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo; góp phần tích cực đưa công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đi đến thành công. Vì vậy, biển, đảo nước ta có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sống của đất nước và mỗi công dân.
Là nước Đông Nam Á lục địa, Việt Nam có bờ biển dài 3260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2, với nhiều lợi ích ở biển, đảo. Biển nước ta có độ sâu trung bình; vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan là các vùng biển nông; chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên quanh năm nắng ấm, nhiều ánh sáng; độ muối trung bình khoảng 30-33%0. Nguồn lợi thỷ, hải sản của biển, đảo nước ta là rất lớn;  sinh vật biển phong phú, trữ lượng hải sản khoảng 3,9-4,0 triệu tấn, cho phép khai thác hàng năm khoảng 1,9 - 2,1 triệu tấn. Biển nước ta có hơn 2000 loài cá, trong đó có khoảng 120 loài có giá trị kinh tế; 1647 loài giáp xác, hơn 100 loài tôm. Ngoài ra, biển nước ta còn có hơn 2500 loài nhuyễn thể, hơn 600 loài rong biển và nhiều loại đặc sản như hải sâm, bào ngư, sò, điệp, v.v., có giá trị xuất khẩu cao.
Dọc bờ biển nước ta có nhiều bãi triều, đầm phá, các cánh rừng ngập mặn rất thuận lợi cho nuôi trồng hải sản nước mặn và nước lợ như nuôi cá lồng, tôm, cua, rau câu, v.v.. Ven bờ có nhiều đảo, vụng và vịnh, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các bãi cho cá, đồi mồi, chim biển, rắn biển và thú biển sinh sản, phát triển. Hiện nay ở nước ta có 4 ngư trường trọng điểm, có vai trò lớn trong bảo vệ và khai thác các nguồn lợi từ biển, đó là ngư trường Cà Mau - Kiên Giang, ngư trường Ninh thuận - Bình Thuận - Bà Rịa - Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng - Quảng Ninh và ngư trường quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa.
Trên vùng biển nước ta có khoảng 4000 hòn đảo lớn nhỏ; trong đó có gần 3000 hòn đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều tiềm năng về tài nguyên dầu khí, thủy, hải sản và quốc phòng, an ninh. Với chiến lược biển và những đổi mới trong chính sách của Đảng, Nhà nước, đã và đang tạo mọi điều kiện để khai thác tài nguyên biển, thủy, hải sản gắn với bảo vệ nguồn lợi và giữ vững chủ quyền vùng biển, hải đảo, thềm lục địa. Những năm gần đây, ngành thuỷ sản nước ta đã có bước phát triển đột phá. Tất cả các địa phương giáp biển đều đẩy mạnh đánh bắt, nuôi trồng thủy, hải sản, làm muối, làm du lịch biển…thu hút khá tốt nguồn nhân lực và giải quyết công ăn việc làm cho hơn 13 triệu lao động, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng, an ninh. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự đổi mới phương thức nuôi trồng, đánh bắt nguồn thủy, hải sản tự nhiên và nhân tạo; mỗi năm ngành thuỷ sản nước ta đạt tổng sản lượng khai thác khoảng gần 4 triệu tấn, lớn hơn sản lượng thịt cộng lại từ chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hiện nay, các mặt hàng thuỷ, hải sản của nước ta đã xâm nhập sâu rộng vào thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ…
Biển Việt Nam nối thông với nhiều hướng, đi đến nhiều quốc gia nên rất thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ… giữa nước ta và các nước trong khu vực và thế giới. Đường bờ biển của nước ta dài, có nhiều vũng, vịnh rộng, kín gió, và nhiều đảo ven bờ, đặc biệt là các cảng, cụm cảng lớn như Hải phòng, Cái Lân, Đà Nẵng-Liên Chiểu-Chân Mây, Dung Quất, Nha Trang, Sài Gòn-Vũng Tàu-Thị Vải, v.v., nằm trên đường hàng hải quốc tế nên có điều kiện rất thuận lợi để nước ta xây dựng các cảng biển, cảng sông, thúc đẩy sự phát triển giao thông đường biển; quan trọng nhất là hướng bắc- nam: từ Hải Phòng đến Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. (tuyến đường này dài 1500 km). Trong điều kiện mở cửa, hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển nền kinh tế tri thức, các thế mạnh của biển, đảo nước ta ngày càng được phát huy. Hiện nay, đánh bắt thủy, hải sản và du lịch biển-đảo đã và đang góp phần quan trọng vào thay đổi cơ cấu kinh tế nước nhà. Hơn thế, vùng biển, đảo nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên rất thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch. Trong đó có quần thể du lịch Hạ Long đã được xếp hạng vào danh mục Di sản thiên nhiên thế giới. Ngoài ra, nước ta còn có nhiều bãi biển nổi tiếng như Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Mỹ Khê (Đà Nẵng), Nha Trang (Khánh Hoà)…là những điểm đến lý tưởng về du lịch.
Vùng thềm lục địa nước ta có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí với tổng trữ lượng khoảng 10 tỷ tấn dầu quy đổi. Trên cơ sở hợp tác với một số nước về lĩnh vực này, chúng ta đã và đang đẩy mạnh thăm dò, khai thác dầu khí (từ năm 1986 đén nay) với quy mô ngày càng lớn, và kết quả bước đầu đã có tác động khá lớn đến sự phát triển nền kinh tế nước nhà. Việc phát triển công nghiệp lọc, hoá dầu và các ngành dịch vụ khai thác dầu khí đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ sự thay đổi cơ cấu kinh tế và ngành công nghiệp; tạo ra một sô nhà máy, khu công nghiệp lớn, tiêu biểu là Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Việc sản xuất muối cũng rất thuận lợi. Các vùng sản xuất muối nổi tiếng, cho năng xuất, chất lượng cao là Cà Ná, Sa Huỳnh…
Gắn chặt với việc khai thác các nguồn tài nguyên dầu khí, du lịch, giao thông và các nguồn thủy, hải sản của biển, đảo… để làm giàu và đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển vào năm 2020; các cấp, các ngành và các địa phương giáp biển, đặc biệt là lực lượng vũ trang nhân dân đang đẩy mạnh hoạt động bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển; coi đó là nghĩa vụ thiêng liêng đối với Tổ quốc; thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ kinh yêu: “Ngày trước ta chỉ có đem và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp. ta phải biết giữ gìn lấy nó”./.

SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ - TINH THẦN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY



Trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám là một trong những mốc son chói lọi nhất, trang sử vàng vẻ vang nhất của dân tộc Việt Nam. Với thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, lần đầu tiên, một dân tộc thuộc địa nửa phong kiến là Việt Nam: đất không rộng, người không đông, nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu đã “đồng tâm, hiệp sức, một lòng”, quyết đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược; đã đập tan ách áp bức, thống trị của phát xít Nhật sau 5 năm chiếm đóng; đã đánh đuổi thực dân Pháp dày xéo đất nước ta suốt 87 năm dòng, kết thúc sự ngụ trị của chế độ phong kiến lỗi thời; mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỉ nguyên độc lập tự do, nhân dân lao động trở thành chủ nhân đất nước, tự quyết định cuộc sống và vận mệnh của mình. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám mở ra thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh với những chiến công oanh liệt cả trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, cả trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng ta từ hoạt động không hợp pháp trở thành một Đảng công khai lãnh đạo chính quyền cách mạng trong cả nước; nhân dân ta từ thân phận là người dân nô lệ, mất nước, cuộc sống cơ cực lầm than, trở thành người làm chủ đất nước, tự quyết định vận mệnh của dân tộc, gây tầm ảnh hưởng của mình đối với cộng đồng quốc tế. Đây là cuộc đổi đời, một cột mốc đánh dấu sự hồi sinh của một dân tộc; từ đây, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được ghi tên trên bản đồ thế giới; khẳng định vị thế, chỗ đứng của Việt Nam trong lịch sử và trong thế giới đương đại.
Đánh giá ý nghĩa thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “chẳng những giai cấp lao dộng và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và các dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng, lần này là lần đầu tiên trong lịch sử  cách mạng  của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo Cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”[i].
Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối chính trị - quân sự của Đảng ta; đã định hướng, mở đường; làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện đất nước; đồng thời đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển nền khoa học quân sự, khoa học xã hội nhân văn quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại. Những nhân tố đó đã kết tinh và kiến tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần Việt Nam, giúp Đảng và nhân dân ta vượt qua muôn ngàn chông gai thử thách, chiến thắng đói nghèo, lạc hậu; chiến thắng kẻ thù hung bạo, dựng nên tượng đài nhân cách, phong cách con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.
  Sức mạnh chính trị - tinh thần trong Cách mạng Tháng Tám trước hết thể hiện ở vai trò lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Đây là điều kiện tiên quyết để Cách mạng Việt Nam đi đúng định hướng, Cách mạng Tháng Tám đi đến thành công. Khẳng định điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Cách mạng Việt Nam muốn giành thắng lợi trước hết phải có Đảng cách mệnh”[ii], “Đảng có vững cách mệnh mới thành công”2. Thấu hiểu sâu sắc điều ấy, nên từ năm 1925, Người đã sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, ra tờ báo Thanh niên, viết tác phẩm Đường Kách mệnh (1927),… tất cả những việc làm đó đều nhằm một mục đích: giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thanh niên Việt Nam yêu nước, làm hạt giống cách mạng để xây dựng phong trào cách mạng và khi điều kiện phát triển chín muồi, chính Người đã triệu tập hội nghị hợp nhất Đảng, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3.2.1930).
Đảng ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị do phong trào Cần Vương và các sĩ phu yêu nước phát động từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nhờ có Đảng lãnh đạo, Cách mạng Việt Nam có đường lối chính trị đúng đắn, có tư tưởng và hành động thống nhất, tổ chức Đảng có chất lượng cao, trong sạch vững mạnh; sâu sát và bám rễ sâu rộng trong quần chúng nhân dân. Thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng ở nước ta từ năm 1930 - 1945 chỉ ra rằng: nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam được chuẩn bị từ trước về mọi mặt: từ việc đấu tranh thành lập Đảng, đề ra Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt; thông qua cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), đấu tranh phục hồi tổ chức Đảng (1932 - 1935); cao trào vận động dân chủ chống phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, cơm áo, hòa bình (1936 - 1939) đến việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, Mặt trận Việt Minh, thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; phát động đấu tranh chống Nhật, cứu nước, v.v..
Tất cả những việc là đó đã được Đảng ta cân nhắc cẩn trọng, chuẩn bị chu đáo cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Sự phát triển và trưởng thành nhanh chóng của lực lượng vũ trang, trở thành điểm tựa, chỗ dựa vững chắc cho đấu tranh cách mạng, là động lực kích thích phong trào cách mạng quần chúng phát triển nhanh, mạnh mẽ, liên tục. Vì thế, sự gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, tạo thành những làn sóng cách mạng vô cùng mạnh mẽ tràn lên, lướt tới, nhấn chìm bọn phát xít Nhật, quấn phăng thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Cho nên, bất luận trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đều đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, công tác đảng, công tác chính trị, đảm bảo cho Đảng luôn có đường lối chính trị đúng đắn, thật sự trở thành bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.
                   Sức mạnh chính trị - tinh thần trong Cách mạng Tháng Tám thể hiện ở việc Đảng ta phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cho ý Đảng, lòng dân hòa quện thống nhất, quân với dân một ý chí; mọi người dân Việt Nam không phân biệt giàu nghèo, sang hèn; già trẻ, gái trai tất cả đều tự nguyện đồng tâm, hợp sức đứng về phía cách mạng, trong đội ngũ của những người cách mạng, trở thành lực lượng chính trị hùng hậu, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Sức mạnh chính trị - tinh thần trong Cách mạng Tháng Tám là sức mạnh của lòng người, của tâm thế sẵn sàng, tự nguyện, tự giác chiến đấu hi sinh để Tổ quốc được sống, để dân tộc Việt Nam được trường tồn, phát triển.
Chính vì thế, sức mạnh chính trị - tinh thần của Đảng ta, nhân dân ta đã đè bẹp ý chí quân xâm lược, nghiền nát những vũ khí tối tân, hiện đại là những máy bay, xe tăng, tàu chiến của bọn thực dân, đế quốc, làm cho chính phủ của đội quân xâm lược khốn đốn, sự uy nghi của cường quốc về kinh tế, quân sự bị lung lay, tinh thần của một dân tộc “thượng đẳng” bị rệu dạo, lung lay, suy sụp. Với tinh thần gan góc, quả cảm và sáng tạo, đội quân chính trị của Đảng là nhân dân ta, quân đội ta đã được tôi luyện qua bão lửa của cách mạng là các cao trào 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945.
Cùng với sự phát triển là lớn mạnh của lực lượng chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặc biệt coi trọng công tác tổ chức rèn luyện cán bộ, chiến sĩ; tổ chức sắp xếp lực lượng vũ trang với cơ cấu hợp lí, kỉ luật tự giác nghiêm minh, có mối quan hệ nội bộ và quân dân tốt, đánh giặc giỏi, công tác hăng say, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Sự ra đời của Đội du kích Bắc Sơn, Cứu Quốc Quân, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã chứng minh điều đó. Cái mới, cái sâu sắc phản ánh sự am hiểu tường tận về sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần của con người Việt Nam trong tương quan so sánh lực lượng với địch là sự giác ngộ và nhận thức đúng đắn mục tiêu, lý tưởng, lẽ sống, ý thức trách nhiệm, lòng yêu nước, căm thù giặc của mỗi người dân Việt Nam đối với vận mệnh của Tổ quốc, của Đảng, của nhân dân ta. Họ hiểu rõ vì ai mà chiến đấu, vì ai sẵng sàng hy sinh cả tính mạng, tuổi trẻ. Vì thế, ngay sau khi ra đời, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã lấy phương châm hoạt động của mình: “chính trị trọng hơn quân sự”, “người trước súng sau” để phát triển lực lượng. Nắm vững phương châm ấy, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã tập trung sức xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng để phát triển lực lượng vũ trang. Nhờ đó, sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã tạo nên sức mạnh vô địch của lực lượng cách mạng; dựa vào nền tảng sức mạnh của lực lượng cách mạng hiện có, Đảng đã nhân thêm sức mạnh mới, nhờ đó từng bước chuyển hóa lực lượng, ta từ yếu chuyển thành mạnh; không những đủ sức để đấu tranh giành chính quyền cách mạng mà còn là nguồn sức mạnh vô địch để bảo vệ chính quyền cách mạng.
Một trong những điểm mấu chốt về phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám là Đảng ta đã nhạy bén, sáng tạo trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về căn cứ địa; lấy căn cứ địa để xây dựng và củng cố cơ sở chính trị ở thành thị, nông thôn; do đó, xuất phát từ cơ sở chính trị để xây dựng cơ sở vũ trang, tiến lên xây dựng khu du kích. Những việc làm đó đã được nhân dân hết lòng ủng hộ, giúp đỡ cả về điều kiện vật chất, cả về nhân tố chính trị - tinh thần. Sự lớn mạnh không ngừng của các căn cứ địa cách mạng trong phạm vi cả nước là cơ sở đặc biệt quan trọng để thành lập, củng cố và phát triển chính quyền cách mạng; qua đó, Đảng tuyên truyền, giáo dục các chủ trương, chính sách, tình hình địch và ta đến mọi người dân.
Vì vậy, ý Đảng, lòng dân, quân với dân một ý chí ngày càng bền chặt, phát triển. Rõ ràng là, khi chưa có tình thế cách mạng trực tiếp thì đấu tranh chính trị được Đảng xác định là mặt trận chủ yếu; theo đó, phát huy sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần đã được đề cao. Khi tình thế mới xuất hiện, Đảng đã nhạy bén, sáng tạo chuyển hình thức đấu tranh từ thấp lên cao, phát động chiến tranh du kích, kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần, tiến lên Tổng khởi nghĩa. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, việc chớp thời cơ và tận dụng tốt các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” nên Đảng đã phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, toàn dân tham gia đánh giặc, cả nước đồng lòng, gắng sức; vì thế, Đảng đã tạo nên sức mạnh vô địch để chiến thắng quân xâm lược quân số đông, nhiều tiền, lắm của, vũ khí tối tân hiện đại.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quí báu, cần nghiên cứu kĩ để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; đó là kinh nghiệm kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta xác định nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến không thể tách rời nhau. Trải qua thực tiễn lãnh đạo ba cao trào cách mạng, Đảng ta đã rút ra kết luận: trong điều kiện, hoàn cảnh của nước ta, nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất. Vì vậy, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và từng bước thực hiện với những chương trình, nhiệm vụ cụ thể. Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, Đảng ta xác định, mũi nhọn của cách mạng cần chĩa vào Phát xít Nhật - Pháp. Đó là giải pháp tình thế hướng vào giải quyết mâu thuẫn chủ yếu cấp bách đặt ra. Đồng thời, Đảng đã phát huy tốt vai trò nền tảng của khối liên minh công - nông - binh…, huy động và tổ chức toàn dân tham gia đánh giặc.
Thực tiễn lãnh đạo 3 cao trào cách mạng đã chứng minh điều đó. Đây là một trong những yếu tố cần đặc biệt nghiên cứu, kế thừa và vận dụng vào xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, động viên nhân dân tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Một trong những kinh nghiệm quí báu mà thắng lợi của cách mạng tháng Tám chỉ ra là Đảng ta đã khôn khéo lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù; đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát xít, giữa chủ nghĩa đế quốc và một bộ phận địa chủ phong kiến, đồng thời lợi dụng mâu thuẫn ngay trong hàng ngũ ngụy quyền, ngụy quân tay sai. Nhờ đó đã cô lập cao độ bọn đế quốc, phát xít và bọn tay sai thân cận chúng; tranh thủ, lôi kéo những phần tử lừng chừng về phía ta. Đây là một kinh nghiệm quí báu rút ra từ Cách mạng Tháng Tám cần nghiên cứu, vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng cấu thành, tạo nên sức sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn, góp phần làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là xây dựng Đảng mácxít - lêninnít ngang tầm nhiệm vụ,  đủ sức lãnh đạo cách mạng. Nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam có được đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn. Đảng ta đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta; đã phát huy triệt để sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại, tạo nên sức mạnh vô địch để đánh thắng kẻ thù; đã sử dụng tối ưu bạo lực cách mạng, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, v.v..
Có thể khẳng định rằng, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của sức mạnh chính trị - tinh thần Việt Nam của Đảng và nhân dân ta; thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ; thắng lợi của lòng kiên nhẫn, ý chí quyết đánh, quyết thắng; thắng lợi của khối đại đoàn kết dân tộc, của liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí thức Việt Nam...Giá trị, ý nghĩa và sức sống của nó đặc biệt sâu sắc, đã trở thành “thương hiệu” giá trị Việt Nam, có sức sống mãnh liệt giữa lòng nhân loại; đã đi vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử; và ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nó là hành trang cần thiết để Đảng và nhân dân ta, cán bộ, chiến sĩ quân đội ta phát huy nhân tố chính trị - tinh thần, nâng nó lên tầm cao mới, biến nó thành động lực, sức mạnh mới để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.


[i] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H. 2000, tr.159.
[ii],2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H. 2000, tr.188.