Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN - TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH



Xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu tất yếu khách quan, là nội dung trọng yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. “Quá trình ấy đòi hỏi phải dựa trên cơ sở vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn đất nước và những kinh nghiệm xây dựng Nhà nước Việt Nam hàng chục năm qua, có tính đến kiến thức và kinh nghiệm tiên tiến trên thế giới”[1].
 Nhà nước pháp quyền, theo Hồ Chí Minh, trước hết phải được tổ chức và hoạt động theo pháp luật, bảo đảm tính tối cao của pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là một nhà nước hoàn toàn xa lạ với kiểu nhà nước cai trị nhân dân và quản lý xã hội bằng quyền hành pháp của chính phủ, tùy tiện ra các sắc lệnh theo ý chí chủ quan, áp đặt và thuận tiện cho sự cai trị của mình chứ không phải là xuất phát từ ý chí của nhân dân được xây dựng thành luật, kiểu nhà nước mà trong đó, chính quyền tự cho phép mình đứng trên pháp luật.
Từ rất sớm, trong Yêu sách của nhân dân An Nam, Hồ Chí Minh đã thể hiện tư tưởng pháp quyền, Người đã yêu cầu: “Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được hưởng những quyền bảo đảm về mặt pháp luật như người Âu Châu... Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”[2]. Tiếp theo đó, khi diễn ca bài Yêu sách của nhân dân An Nam thành Việt Nam yêu cầu ca, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “... xin hiến pháp ban hành; Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”[3]
Tư tưởng pháp quyền dân chủ của Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc và cụ thể ở yêu cầu của nền dân chủ mà cho đến nay không phải nước nào và ai cũng hiểu và làm được như vậy. Một nhà nước cai trị nhân dân, quản lý xã hội không phải bằng pháp luật mà chỉ bằng các sắc lệnh, chỉ thị thì không thể gọi là nhà nước dân chủ, một nhà nước với quyền lập pháp thuộc về quyền lực của nhân dân được. Năm 1926, trong yêu sách gửi Hội Vạn quốc, Nguyễn Ái Quốc đã đề ra yêu sách: “xây đắp một nền hiến pháp về phương diện chính trị và xã hội, theo những lý tưởng dân quyền”[4], coi đó là một nội dung cơ bản của nhà nước dân chủ và pháp quyền. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ nhanh chóng thực hiện hai việc quan trọng là tổ chức tuyển cử và ban hành hiến pháp. Người nói: “Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”[5]. Đồng thời, Hồ Chí Minh luôn tâm niệm: một xã hội không thể sống một ngày không có pháp luật. Do đó, Người đã ký một loạt sắc lệnh cấp bách về bảo đảm tự do cá nhân, bãi bỏ thuế thân, tịch thu tài sản của thực dân và Việt gian, tổ chức tòa án và một loạt các sắc lệnh cần thiết khác. Rõ ràng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng một kiểu nhà nước mới - nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta.
Xuất phát từ lợi ích của nhân dân, Hồ Chí Minh yêu cầu phải sử dụng pháp luật làm vũ khí trừng trị thật nghiêm khắc những kẻ phạm tội, dù kẻ đó là ai, hiện đang nắm giữ chức vụ gì. Trong Quốc lệnh năm 1946 do Người ký lệnh ban hành ghi rõ 10 điều phải xử tử nếu: thông với giặc, phản quốc; trái quân lệnh; ra trận tự ý rút lui; tự ý phá hoại giao thông; phá hoại quân khí; để cho bộ đội hại dân; vô cơ sát hại kiều dân ngoại quốc; trộm cắp của công; hãm hiếp, cướp bóc; can tội bắt cóc, ám sát[6].
 Trong “phép trị nước” của Hồ Chí Minh, “đức trị”, “nhân trị” và “pháp trị” đều có vị trí quan trọng và phải kết hợp chặt chẽ với nhau. Tư tưởng đức trị của Hồ Chí Minh thể hiện tập trung nhất ở tư cách người cách mệnh, bao gồm 5 điều: “Trí, tín, nhân, dũng, liêm”. Người chỉ rõ: “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”[7]. Theo Hồ Chí Minh, muốn trị nước, trước hết người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải “tu thân”. Không tu thân thì không thể “bình” được thiên hạ. Trong đức trị, Hồ Chí Minh tối kỵ sự lắt léo về chính trị và tư tưởng. Người luôn căn dặn cán bộ: “Việc gì cũng phải công bình chính trực, không nên vì tư tâm, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán”. Đem lòng nhân đức, điều hơn lẽ thiệt mà giảng giải cho người để người “quy thuận”, “cải tà quy chính” đã trở thành phép xử thế của Hồ Chí Minh; chúng ta rất cần phải học tập và làm theo.
 Trong quan niệm về Nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh có sự thống nhất biện chứng giữa đạo đức và pháp luật. Từ xưa tới nay, “đức trị” (hay “nhân trị”) và “pháp trị” vốn là hai dòng tư tưởng, hai khuynh hướng trong văn hóa trị nước của nhân loại. Hai cách thức này có khi đối lập và đấu tranh với nhau, nhưng lại thường xuyên tác động và bổ sung cho nhau trong thực tế trị nước của nhà cầm quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa và hợp lý “đức trị” và “pháp trị”, luôn chú trọng xây dựng một nền pháp lý vững mạnh ở Việt Nam, trong khi không sao lãng sự nghiệp giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho nhân dân và cán bộ. Ngày nay, tư tưởng của Người về sự kết hợp biện chứng giữa “đức trị” và “pháp trị” tiếp tục soi sáng chúng ta trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Theo Người, một chính quyền mạnh và sáng suốt phải là một nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Trong quá trình khảo sát thực tế và nghiên cứu lý luận, Hồ Chí Minh đã đúc kết được những bài học hết sức quý báu về kinh nghiệm xây dựng chính quyền nhà nước. Tổng kết về cách mệnh Mỹ, Người viết: “Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng: “Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng... Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ chính phủ ấy đi, và gây lên chính phủ khác... ”. Nhưng bây giờ Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mệnh, ai đụng đến chính phủ! Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai. Ấy là vì cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa phải cách mệnh đến nơi. Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cho cách mệnh rồi thì giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[8].
Tổng kết về cách mệnh Pháp, Người viết: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thóat khỏi vòng áp bức. Cách mệnh Việt Nam nên nhớ những điều ấy”[9].
Truyền bá tư tưởng của V.I.Lênin và ánh sáng Cách mạng Tháng Mười tới những thanh niên trí thức yêu nước Việt Nam, Người khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên Việt Nam... Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và V.I.Lênin”[10]. Tóm lại, với sự kiện năm 1920, đọc được Luận cương của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã có một sự lựa chọn mang tính cách mạng về con đường cách mạng, về nền tảng tư tưởng và mô hình nhà nước cho cách mạng Việt Nam. Người lựa chọn kiểu nhà nước Xôviết, vận dụng sáng tạo vào Việt Nam, Người khẳng định mô hình nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Kết tinh của sự vận dụng sáng tạo nói trên là ở bản Tuyên Ngôn độc lập do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
 Tư tưởng về xây dựng một chính quyền mạnh và sáng suốt là tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó được đúc kết và thể hiện rất rõ trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 do Người trực tiếp chỉ đạo xây dựng. Bộ máy nhà nước của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa hướng vào các tiêu chuẩn: có một chính sách bầu cử phổ thông đầu phiếu trên cơ sở của tự do ứng cử và bầu cử; một Quốc hội lập hiến và lập pháp rộng rãi, đại diện cho tiếng nói của quốc dân; một bộ máy nhà nước được phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận, nhất là ở cấp trung ương; một hệ thống chính quyền nhân dân địa phương và tính độc lập của Hội đồng nhân dân và bộ máy hành chính, đứng đầu là chính phủ; một nền hành chính mạnh, tập trung, vô tư và khách quan, hết lòng phục vụ nhân dân; một nền tư pháp với nguyên tắc độc lập xét xử của thẩm phán, thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội; một cơ chế kiểm soát quyền lực có hiệu quả trong xét xử do nhân dân thực hiện.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 131
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 435.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 438.
[4] Tư liệu Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam, ký hiệu HI.G.1.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,  tr. 8.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 163-164.
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,  tr. 253.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 270.
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 274
[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 280

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 – SỬ THI ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM



Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là thiên anh hùng ca vĩ đại nhất trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh để dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước ta bước hẳn vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. 40 năm đã qua, kể từ ngày Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, có biết bao sự đổi thay và biến động. Nhân dân ta dưới sự lạnh đạo của Đảng đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và đã đạt được những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thời gian càng lùi xa và những sự kiện chính trị, quân sự trong nước và thế giới dồn dập xô tới như những đối chứng lịch sử để só sánh, càng làm chúng ta nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc, giá trị, ý nghĩa của Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đã lý giải vì sao Việt Nam, một nước nhỏ, đất không rộng, người không đông, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, vũ khí còn thô sơ đã đánh thắng đế quốc Mỹ - một cường quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn nhất trong các nước tư bản.
Lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam đều khẳng định, chúng ta đánh thắng thực dân Pháp trước đây và đế quốc Mỹ sau đó là vì cuộc chiến tranh của nhân dân ta mang tính chính nghĩa, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa do thực dân, đế quốc gây nên để giành và giữ vững độc lập dân tộc, quyền sống làm người. Đó là cuộc đấu tranh giai cấp cực kỳ quyết liệt. Trong cuộc chiến tranh ấy, chúng ta đã giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, giải phóng dân tộc, quyết chiến và quyết thắng “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Vì vậy, chúng ta không những đã hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước mà còn giải quyết được vấn đề “ai thắng ai” giữa hai thế lực cách mạng và phản cách mạng, giữa một bên do Mỹ cầm đầu, muốn biến Việt Nam thành “sân sau của chủ nghĩa tư bản”, đi theo con đường của chủ nghĩa tư bản với một bên là chúng ta, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975 sáng ngời tư tưởng nhân văn, nhân đạo, chính nghĩa, vừa mang tính chất giải phóng dân tộc, vừa mang tính chất bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, biểu hiện sinh động nhất bản lĩnh, trí tuệ và tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân ta và nhân dân ba nước Đông Dương, của bạn bè và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới. Biện chứng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước do nhân dân ta tiến hành gần 21 năm biểu hiện ở chỗ: có kiên quyết chiến đấu để giải phóng miền Nam mới bảo vệ được miền Bắc và có bảo vệ vững chắc miền Bắc mới có điều kiện để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thu giang sơn về một mối.
 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả sinh động của tình đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa Việt Nam, Lào và Campuchia. Với bản chất, âm mưu xâm lược cùng với tham vọng độc chiếm Đông Dương, đế quốc Mỹ đã tiến hành xâm lược cả Việt Nam, Lào và Campuchia, hy vọng dùng nước này để làm bàn đạp và uy hiếp, xâm lược nước kia, biến Đông Dương thành một chiến trường, một thị trường có lợi cho Mỹ. Hiểu rõ âm mưu thâm độc ấy, ba dân tộc láng giềng Việt Nam, Lào, Campuchia anh em đã đoàn kết, gắn bó bên nhau “chia bùi sẻ ngọt”, chung một mục tiêu chiến đấu chống một kẻ thù xâm lược là đế quốc Mỹ và tay sai. Kể từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời và lãnh đạo cách mạng ba nước, mối tình đoàn kết, gắn bó, tự nguyện liên minh chiến đấu đã hình thành một Mặt trận nhân dân Đông Dương thống nhất và ngày càng được xây đắp vững chắc, đã kết thành một khối liên minh kháng chiến chống đế quốc xâm lược, không sức mạnh nào, thế lực thù địch nào có thể phá nổi. Nhờ phát huy thắng lợi trên chiến trường miền Nam Việt Nam và được sự hỗ trợ của quân và dân ta, nhân dân Campuchia đã giành thắng lợi ngày 17/4/1975, nhân dân Lào giành thắng lợi vào tháng 12/1975.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975, dấu mốc quan trọng đánh dấu sự kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mang ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc. Xâm lược nước ta, đế quốc Mỹ không chỉ nhằm thôn tính Việt Nam, sâu xa hơn nó còn có mục đích thí nghiệm, rút kinh nghiệm qua thử nghiệm để đối phó với cách mạng thé giới, răn đe, ngăn chặn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Qua đó, tranh giành ảnh hưởng với các đế quốc khác trên các lục địa để thực hiện mục tiêu chiến lược toàn cầu, tiến tới thống trị châu Âu, làm bá chủ thế giới. Vì vậy, Việt Nam đã trở thành trung tâm, tiêu điểm đối đầu với chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ. Điều đó được thể hiện rõ: Mỗi thất bại của Mỹ ở Việt Nam đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến chiến lược toàn cầu của Mỹ, cản trở bước tiến của Mỹ. Cho nên, đế quốc Mỹ không chỉ là kẻ thù nguy hiểm, trực tiếp của nhân dân ta mà còn là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới. Đánh Mỹ, cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Đứng lên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam đã trở thành tuyến đầu của phong trào giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân mới, bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm, nhân dân ta có niềm vinh dự, tự hào là đã đánh thắng kẻ thù hung bạo, đội quân xâm lược lớn nhất của thời đại, kẻ thù chung của cả loài người tiến bộ. Vì lẽ đó, nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, đặc biệt nhân dân các nước chủ nghĩa xã hội anh em như nhân dân Trung Quốc, Liên Xô và nhân dân các nước khác đã ủng hộ chúng ta cả về vật chất và tinh thần. Có thể khẳng định: Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là sự kết tinh các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.
Một trong những nhân tố quyết định làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975 là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình với mưu lược và tư duy chính trị, quân sự độc đáo, sắc xảo của Đảng ta. Đảng đã biết khơi dậy và khai thác tối ưu mọi tiềm năng thế mạnh của nhân tố con người và kết hợp chặt chẽ các nhân tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” với nhau, tạo thành một tổng hợp lực nhằm cùng một hướng để tăng sức mạnh của quân và dân ta lên gấp bội. Đó là sức mạnh của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, sức mạnh của đường lối chính trị, quân sự đúng dắn, sáng tạo, sức mạnh của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, của việc kết hợp chặt chẽ lợi ích cơ bản của nhân dân ta với những mục tiêu của thời đại; kết hợp cả đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng: sử dụng bạo lực cách mạng tổng hợp, kể cả lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; tiến hành khởi nghĩa từng phần ở nông thôn đến thành thị và từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao; kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công’ đánh địch cả trên ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn, đồng bằng thành thị; đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đồng thời, biết tạo thời cơ và triệt để lợi dung thời cơ, đã mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy, đè bẹp quân địch, giành chiến thắng cuối cùng là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta sau 21 năm dài đằng đẵng, thực hiện thống nhất Tổ quốc, Nam - Bắc xum họp một nhà, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Điều này đã được lý luận và thực tiễn quân sự thế giới khẳng định: nhân dân ta đánh thắng đế quốc Mỹ là vì chúng ta mạnh hơn đế quốc Mỹ; trong chiến tranh, không bao giờ có chuyện may rủi, tình cờ. Bên thắng phải là bên mạnh hơn, còn bên thua nhất định phải là bên yếu hơn. Việc Mỹ phải quấn cờ về nước sau Hiệp định Pari được ký ngày 27/1/1973 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là minh chứng hùng hồn đầy thuyết phục, đã nói lên nhận định sâu sắc ấy.
Trong quá khứ, chúng ta đã rất tự hào và vẻ vang như vậy thì trong hiện tại và tương lai, chắc chắn, các thế hệ con cháu Bác Hồ vẫn sẽ tiếp tục sự nghiệp vĩ đại, chính nghĩa, vẻ vang và đáng tự hào ấy trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta luôn luôn tin vào chân lý vì chúng ta không thể sống và làm khác; dân tộc Việt Nam không thể sống khác, dù thời cuộc có thay đổi, song phẩm chất nhân cách, văn hóa dân tộc của con người Việt Nam không thể đổi thay. Hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã nói lên điều ấy./.

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 - PHO SỬ VÀNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM



Sau khi ký Hiệp định Pari về Việt Nam, Mỹ và các nước phụ thuộc buộc phải rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam vào ngày 29-3-1973; song đế quốc Mỹ không hề từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta, mà vẫn tiếp tục dùng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn làm “công cụ phục thù”, thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, áp dụng chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam với chính sách “Người Việt trị người Việt”, biến miền Nam Việt Nam thành một nước với “chế độ quốc gia” thân Mỹ, có lợi cho Mỹ, mà thực chất là biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, là “sân sau” của Mỹ và đồng minh. Vì vậy, bằng mọi cách, Mỹ, Ngụy ra sức gây hấn, lấn chiếm vùng giải phóng của ta với dã tâm tiêu diệt Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và đánh phá miền Bắc, đưa nước ta về “thời kỳ đồ đá”.
Để thực hiện mục tiêu đã định, đế quốc Mỹ ồ ạt đổ tiền của, vũ khí, trang bị quân sự, phương tiện chiến tranh cho ngụy quyền Sài Gòn. Chỉ tính riêng năm 1973, Mỹ đã viện trợ cho ngụy 2.670 triệu dollar, 700 máy bay, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép, bổ sung vật tư dự trữ chiến tranh hơn 2 triệu tấn. Đồng thời, ráo riết bắt lính, tăng lực lượng vũ trang ở cơ sở để trực tiếp khống chế nhân dân bằng cách dồn dân lập ấp, cắt đứt các mối quan hệ giữa nhân dân với du kích và bộ đội ta. Vì vậy, chỉ trong khoảng thời gian chưa đầy một năm, số lượng phòng vệ dân sự đã tăng lên 1,5 triệu người, hơn 20% sĩ quan đã được đưa xuống “nằm vùng”, trực tiếp chỉ huy xã, phường, thị trấn.
Cậy vào sức mạnh và sự viện trợ của Mỹ, quân ngụy liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét, đốt phá “hủy diệt”, tàn sát đẫm máu đồng bào, chiến sĩ ta. Trong năm 1973, ngụy quyền Sài Gòn đã tiến hành gần 10 nghìn cuộc tiến quân càn quét, lấn chiếm vùng tranh chấp từ cấp tiểu đoàn trở lên cùng với 350 nghìn cuộc hành quân cảnh sát - bình định trong vùng chúng kiểm soát để duy trì lực lượng răn đe của Mỹ ở các vùng phụ cận Việt Nam, nhất là ở Lào và Campuchia. Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao, các “chiến dịch xuyên tạc, bóp méo sự thật” để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam, giành lại ưu thế chiến trường. Trước tình hình ấy, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kiên quyết đấu tranh, buộc Mỹ và các bên liên quan phải nghiêm túc thực hiện Hiệp định Pari, gìn giữ hòa bình, gây dựng lại và phát triển phong trào cách mạng Việt Nam. Đồng thời, khẩn trương chuẩn bị các điều kiện cần thiết để chống trả lại sự tráo trở, hành động can thiệp trắng trợn của không quân và hải quân Mỹ khi ngụy quyền Sài Gòn lâm vào tình thế khốn cùng, đứng trước nguy cơ bị ta tiêu diệt.
Từ giữa năm 1973, Mỹ trắng trợn tuyên bố sự ủng hộ và không ngừng “nhúng tay” trực tiếp chỉ đạo quân ngụy lấn chiếm, bình định và điên cuồng đánh phá khắp miềm Nam hòng xóa sạch các vùng giải phóng của ta, gây cho ta những tổn thất nặng nề. Tháng 7 năm 1973, tại Hội nghị Trung ương lần thứ XXI, Đảng ta phát hiện một số nhược điểm đã mắc phải từ sau Hiệp định Pari như phong trào chính trị trong nhân dân còn yếu, đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận chưa đủ mạnh, vùng giải phóng chưa được củng cố vững chắc, lực lượng vũ trang chưa phát triển cân đối; bộ đội địa phương và dân quân du kích có mặt còn yếu...Từ đó, Đảng ta khẳng định, cách mạng miền Nam vẫn phải tiếp tục con đường bạo lực; bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, ta đều phải nắm chắc thời cơ, kiên định mục tiêu, đường lối chiến lược tiến công để thực hiện thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Tại Hội nghị này, Đảng ta nhấn mạnh kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam vẫn là đế quốc Mỹ và tay sai của chúng. Đế quốc Mỹ vừa là kẻ chủ mưu, vừa là chỗ dựa “hậu thuẫn”của bọn tay sai ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn. Do đó, việc cần kiếp phải làm cho được là đánh đổ tập đoàn thống trị tay sai của Mỹ: ngụy quyền Sài Gòn. Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam là đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao; thắng địch từng bước và chủ động trong mọi tình huống, kiên quyết đưa cách mạng Việt Nam vượt qua thách thức, vững vàng tiến lên. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ XXI, Đảng ta còn xác định một số nhiệm vụ cấp bách với nhiều giải pháp cụ thể để thực hiện đường lối và chủ trương đã vạch ra, đó là: 1. Nắm giữ lực lượng vũ trang; 2. Ra sức giành dân và giành quyền làm chủ của nhân dân; 3. Đẩy mạnh công tác binh vận; 4. Đẩy mạnh đòn tiến công ở thành thị; 5. Ra sức xây dựng và củng cố vùng giải phóng; 6. Tăng cường công tác mặt trận; 7. Đẩy mạnh công tác ngoại giao; 8. Tăng cường công tác đảng, công tác chính trị, ...
 Có thể khẳng định Nghị quyết Trung ương XXI là văn kiện lịch sử mang dấu ấn là cột mốc trực tiếp chỉ đạo cách mạng và chiến tranh cách mạng giành thắng lợi trong thời kỳ kết thúc chiến tranh, thực hiện giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam; là cơ sở lý luận - thực tiễn đặc biệt quan trọng để Hội nghị Quân ủy Trung ương, tháng 3/1974 đề ra chủ trương kiên quyết phản công và tiến công địch, vận dụng linh hoạt trên cả ba vùng chiến lược; góp phần quyết định nhanh chóng và chính xác việc xoay chuyển hẳn tình thế, cục diện chiến trường miền Nam có lợi cho ta.
Đến giữa năm 1974, trên toàn miền Nam, ta đã xóa được 3.600 đồn bốt, giải phóng thêm 850 ấp với 115 vạn dân. Miền Bắc vừa sẵn sàng chiến đấu, vừa tăng cường sức người, sức của vào miền Nam nhiều hơn bất kì thời gian nào trước đó. Ta càng đánh, ngày càng mạnh; ngụy ra sức chống đỡ và ngày càng suy yếu rõ rệt; nước Mỹ lâm vào tình cảnh khủng hoảng trầm trọng.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó đã xuất hiện thêm một số khó khăn mới đối với cách mạng Việt Nam: cả Trung Quốc và Liên Xô đều chấm dứt viện trợ cho ta; Liên Xô chưa muốn ta đẩy mạnh ngay chiến tranh giải phóng miền Nam, còn Trung Quốc muốn giữ nguyên hiện trạng để có điều kiện mặc cả với Mỹ[1]. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã họp nhiều lần để thống nhất quyết tâm chiến lược và thông qua kế hoạch giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Về chiến lược, Đảng ta hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong thời gian 2 năm 1975-1976. Về kế hoạch chiến lược, ta xác định mục tiêu trong năm 1975 là làm cho quân đội ta lớn mạnh vượt bậc, đủ sức hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà Đảng và nhân dân giao phó. Nếu thời cơ đến sẽ mở nhiều đợt tấn công nổi dậy, làm cho địch suy yếu nhanh chóng, tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong năm 1976; đánh lớn, đánh nhanh, đánh Sài Gòn là chỗ hiểm yếu nhất, sớm giành thắng lợi cuối cùng.
Ngoài kế hoạch cơ bản trên, ta còn dự kiến một phương án khác: Nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Đây không chỉ là quyết tâm chiến lược mà còn là sự sáng tạo lớn trong nghệ thuật chỉ đạo chuẩn bị cuộc Tổng tiến công trong thời kỳ kết thúc chiến tranh cũng như sau này, trong điều hành cuộc Tổng tiến công chiến lược. Chiến thắng giòn giã và việc giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long đầu năm 1975 cho thấy: quân ngụy đã suy yếu nghiêm trọng, còn quân Mỹ không thể quay trở lại miền Nam Việt Nam. Chính điều này đã củng cố thêm ý chí quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam mà Đảng ta đã dự kiến năm 1974.
Trước tình thế thời cuộc thay đổi từng ngày, thế và lực của ta không ngừng lớn mạnh, Đảng ta đã quyết định mở cuộc Tổng tiến công chiến lược từ ngày 4/3/1975, bằng ba đòn chiến lược: chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng trận đột phá đánh chiếm Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên; chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sự kiện ngày 4/3/1975 đã làm Mỹ, ngụy bàng hoàng, sửng sốt: ta nổ súng tấn công một số mục tiêu trọng yếu ở Pleiku để nghi binh tạo thế cho Chiến dịch Tây Nguyên. Rạng sáng 10/3, ta đánh Buôn Mê Thuột, mở cửa đột phá, khai màn cho cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1975 giành thắng lợi to lớn trên chiến trường Tây Nguyên. Ngày 18/3/1975, Bộ Chính trị họp, kịp thời bổ sung quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Cùng khoảng thời gian đó, ta bắt đầu tiến công ở Trị - Thiên và khu V. Đến 21/3, ta phát triển thành chiến lược tiến công Huế - Đà Nẵng và giải phóng Huế ngày 26/3. Với thắng lợi như “chẻ tre” trên chiến trường Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ, ngày 25/3, Bộ Chính trị kịp thời bổ sung chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trước mùa mưa. Đến 29/3, ta giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng và 5 tỉnh Bắc Trung Bộ. Đến ngày 03/04, ta đã quét sạch quân địch và giải phóng toàn bộ đồng bằng ven biển miền Trung. Ngày 1/4/1975, căn cứ vào sự tấn công dồn dập và thắng lớn của ta trên chiến trường, Bộ Chính trị lại tiếp tục bổ sung quyết tâm chiến lược: giải phóng miền Nam trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4/1975, trước mùa mưa, không thể chậm chễ.
Ngày 9/4/1975, ta bắt đầu cuộc chiến đấu tạo thế ở Đông Bắc, Tây Nam Sài Gòn và đánh địch ở toàn miền Đông Nam Bộ với việc huy động lực lượng lớn nhất trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, mở một chiến dịch tấn công quy mô nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam gồm 4 quân đoàn và một số đơn vị tương đương quân đoàn. Ngày 26/4/1975, ta bắt đầu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định, buộc Tổng thống ngụy Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào 11h30 ngày 30/4/1975, gây chấn động cực kỳ dữ dội toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long, ba nước Đông Dương và thế giới. Trong hai ngày 30/4 và 1/5 năm 1975, đồng bào và chiến sĩ các tỉnh Đông Nam Bộ đã tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân địch và giải phóng hoàn toàn các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Đến đây, ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, thực hiện tốt lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu: đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Đó là kết quả của hơn 21 năm dài đằng đẵng quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã không tiếc máu xương, không sợ hy sinh, gian khổ, đã kiên trì, kiên định, kiên quyết và anh dũng chiến đấu, giành thắng lợi, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đưa giang sơn gấm vóc về một mối; đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.



[1] Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi và bài học, NXB Chính trị Quốc gia, 1995, tr.91